View Single Post
  #2  
Cũ 08-10-2009, 10:32
vhnga vhnga is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Jun 2009
Bài viết: 76
Cảm ơn: 51
Được cảm ơn 51 lần trong 26 bài đăng
Default

“Trong di sản văn học nhân loại không ít những tác phẩm để đến được bạn đọc phải trải qua bao gian truân, tốn bao công sức, nhưng một số phận như Nghệ nhân và Margarita quả thật hiếm có. Ðược viết trong mười hai năm, bắt đầu từ năm 1928 với cái tên dự định là Tiểu thuyết về quỷ sứ, bị xé, bị đốt, viết đi viết lại bảy lần; cho đến năm 1940 nằm trên giường bệnh, mắt lòa, Bulgakov vẫn đọc cho vợ sửa chữa; sau khi nhà văn qua đời, người vợ tận tụy là Elena Sergheevna Bulgakova cùng bạn bè và những người hâm mộ ông sau hơn một phần tư thế kỷ chạy vạy mới công bố được tác phẩm bị cắt xén "một cách man rợ" trên tờ tạp chí Moskva. Nhưng ngay ở dạng bị lược bỏ này cuốn tiểu thuyết cũng gây nên chấn động lớn…” (Đoàn Tử Huyến)
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn tác phẩm đặc sắc này qua bản dịch từ nguyên bản tiếng Nga của Đoàn Tử Huyến. - talawas chủ nhật
MIKHAIL BULGAKOV Nghệ nhân và Margarita Đoàn Tử Huyến
Lời người dịch cho bản in tiếng Việt lần thứ ba
Năm 2006, Mikhail Bulgakov, một trong những nhà văn lớn nhất và kì bí nhất của nước Nga, tròn 115 tuổi.

Hành trình cuộc đời, hành trình văn chương của ông trên dưới trăm năm đầy gian nan thăng trầm nhưng hướng về bất tử, như lời khẳng định của một nhà văn Nga: "Bulgakov - nhà văn đang sống và sẽ sống chừng nào còn tồn tại văn học Nga". Hơn thế nữa, mối quan tâm đối với sự nghiệp sáng tác của Bulgakov mỗi ngày một tăng ở Nga và ở nhiều nơi trên thế giới, hầu hết tác phẩm của ông liên tục được in, tái bản, dịch, dựng phim... Xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu "Bulgakov học". Ông là một trong số rất ít nhà văn ở Nga được làm "Bách khoa toàn thư"; và đặc biệt, Bulgakov có lẽ là một trong những nhà văn có tác phẩm được đưa lên và được đọc nhiều nhất trên mạng Internet.
Nghệ nhân và Margarita là cuốn tiểu thuyết lớn nhất của M. Bulgakov, một trong những đỉnh cao của nghệ thuật ngôn từ Nga. Tác phẩm này đã được dịch sang tiếng Việt hai mươi năm trước, có thể nói đây là công trình dịch thuật công phu và tâm đắc nhất của tôi. Tuy nhiên, có một sự thật là, khác với ở nước Nga và phương Tây, kiệt tác này không thật sự được phổ biến và tiếp nhận rộng rãi ở bạn đọc Việt Nam - có lẽ là do những khác biệt nhất định về văn hóa. Lần này, 65 năm sau khi tác phẩm ra đời, chúng tôi xin tái bản lại bản tiếng Việt trong một nỗ lực tiếp tục đưa Bulgakov đến gần hơn nữa với bạn đọc Việt Nam, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, thế hệ mà tôi hi vọng sẽ dễ dàng tiếp cận Nghệ nhân và Margarita hơn. Ngoài bản dịch cuốn tiểu thuyết, chúng tôi đưa thêm phần Phụ lục để phần nào giúp bạn đọc trong việc cảm thụ tác phẩm này.
Hà Nội, 27 tháng 1 năm 2006
Ðoàn Tử Huyến
... thế rốt cuộc, ngươi là ai? „Ta là một phần của cái sức mạnh vốn muôn đời muốn điều ác nhưng muôn đời làm điều ích lợi. (Goethe, Faust) [0]
Chương 1
Ðừng bao giờ nói chuyện với những người lạ
Một buổi chiều mùa xuân, vào cái giờ mặt trời lặn nóng chưa từng thấy, trong công viên Hồ Pat'riarsi [1] ở Moskva xuất hiện hai vị nam công dân. Người thứ nhất dáng thâm thấp, béo tốt, hói đầu, mặc bộ quần áo mùa hè màu xám nhạt, chiếc mũ còn khá lịch sự bóp lại cầm trong tay, cặp kính gọng sừng đen to quá cỡ ôm ngang khuôn mặt cạo kỹ lưỡng. Người thứ hai còn trẻ, vai rộng, tóc vàng hung rối bù, mũ cát két sọc vuông đội lệch ra sáu gáy, áo sơ mi kẻ ô, quần dài trắng nhàu nát và chân đi đôi giày vải đen.
Người thứ nhất không phải ai khác, mà chính là Mikhail Aleksandrovich Berlioz [2] , chủ tịch ban chấp hành của một trong những hiệp hội văn học lớn nhất Moskva, viết tắt là MASSOLIT [3] , và ông đồng thời cũng là tổng biên tập một tờ tạp chí văn học lớn; còn người bạn đường trẻ của ông là nhà thơ Ivan Nikolaievich Ponưrev, bút danh Bezdomnưi [4] .
Bước vào dưới dãy bóng râm của hàng cây lipa [5] đang bắt đầu nhú lá xanh, việc đầu tiên của hai nhà văn là chạy vội đến bên chiếc quầy dựng bằng ván sơn sặc sỡ với dòng chữ “Bia và nước giải khát”.
Mà quên, có lẽ cần phải thông báo ngay cho bạn đọc biết điều kỳ lạ thứ nhất của cái buổi chiều tháng Năm khủng khiếp này. Ðó là: không chỉ ở cạnh quầy giải khát, mà suốt dọc cả con đường có trồng cây chạy song song với phố Malaia Bronnaia cũng không thấy một bóng người nào. Vào cái giờ đó, khi hình như mọi người đã hết cả sức để thở, khi vầng mặt trời, sau một ngày thiêu đốt Moskva, đang bọc mình trong màn sương khô lặn xuống một nơi nào đấy phía sau tuyến đường vòng Sadovoie, chúng ta không hề gặp một ai đi dạo hóng mát dưới bóng hàng cây lipa, không thấy một người nào ngồi trên những chiếc ghế băng „suốt dọc con đường dài vắng tanh vắng ngắt.
“Cho cốc nước khoáng narzan”, Berlioz nói với người đàn bà bán hàng.
“Không có narzan đâu”, người đàn bà trong quầy đáp, và không hiểu tại sao bà ta lại tỏ vẻ phật ý.
“Có bia không?” Bezdomnưi hỏi bằng giọng khàn khàn.
“Bia tối mới chở về“, người đàn bà trả lời.
„Thế có gì?„ Bezdomnưi lại lên tiếng.
„Nước mơ ấm”, người đàn bà nói.
„Thôi được, cho xin, cho xin, cho xin!...”
Hai cốc nước mơ sủi rất nhiều bọt màu vàng, và trong không khí bốc lên một thứ mùi như ta thường thấy trong các cửa hiệu cắt tóc. Uống xong, hai nhà văn lập tức đua nhau nấc cụt; họ trả tiền và ngồi xuống một chiếc ghế băng, mặt ngoảnh ra hồ, lưng quay về phía phố Bronnaia.
Ðúng lúc đó bắt đầu xảy ra điều kỳ lạ thứ hai của buổi chiều hôm đó, nhưng nó chỉ liên quan tới một mình Berlioz: ông bỗng thôi nấc, tim bỗng đập mạnh một cái rồi lặn hẫng đi đâu mất; và thoáng sau nó trở lại nhưng hình như có kèm theo một mũi kim tù nằm mắc bên trong. Thêm vào đó, Berlioz bỗng cảm thấy một nỗi sợ hãi vô cớ nhưng rõ rệt đến nỗi ông muốn ngay lập tức bỏ chạy khỏi nơi đây không ngoái lại. Không hiểu cái gì khiến ông hoảng sợ, Berlioz đưa mắt rầu rĩ nhìn quanh. Mặt ông tái mét; ông lấy khăn mùi soa lau trán, nghĩ thầm: “Cái gì xảy ra với mình thế này nhỉ? Trước đây chưa bao giờ như vậy cả... Hình như tim mình bị sao ấy... Mình mệt mỏi quá rồi. Có lẽ cần phải vứt tất cả lại để đến nghỉ ở Kislovodsk [6] thôi...”
Ðúng lúc đó, làn không khí oi ả bỗng cô đặc lại trước mắt Berlioz, tạo thành một người đàn ông trong suốt có hình thù hết sức kỳ dị. Trên mái đầu nhỏ tí của anh ta là chiếc mũ lưỡi trai của dân đua ngựa, áo vét kẻ ô mỏng ngắn cũn cỡn... Người này cao khoảng một sagien, nhưng vai hẹp, gầy không thể tưởng được, và bộ mặt, xin bạn đọc lưu ý cho, đầy vẻ nhạo báng!
Cuộc đời của Berlioz từ trước đến nay vốn không quen với những chuyện khác thường. Mặt mỗi lúc một tái nhợt đi, ông trố mắt kinh hãi và hoảng sợ nghĩ: “Ðiều này là không thể có được!..."
Nhưng than ôi, điều đó lại là có thật; và người đàn ông dài ngoẵng, trong suốt đến có thể nhìn thấu qua được, chân không chạm đất, cứ lắc lư hết sang phải lại sang trái ngay trước mắt ông.
Berlioz cảm thấy kinh hoàng tới mức ông phải nhắm mắt lại; còn khi mở mắt ra, ông thấy rằng tất cả đã kết thúc, ảo ảnh đã tan, không thấy người đàn ông mặc áo kẻ ô nữa, đồng thời cái mũi kim tù ở trong tim cũng đã rơi đâu mất.
„Hừ, quỷ quái thật! „ông tổng biên tập kêu lên. „Ivan này, anh biết không, tôi suýt bị trúng nắng đấy! Thậm chí còn có cái gì như ảo giác nữa”, ông cố nhếch mép cười khẩy, nhưng trong mắt vẫn lộ vẻ hoảng hốt và hai bàn tay vẫn chưa hết run.
Nhưng dần dần ông cũng bình tĩnh lại, dùng tấm khăn phe phẩy quạt lên mặt và cất giọng khá sảng khoái: “Và như vậy là..." rồi tiếp tục câu chuyện vừa bị bỏ dở vì việc uống nước mơ.
Câu chuyện họ đang nói, như sau này được biết, là về Chúa Giesu Christ [7] . Chả là ông tổng biên tập trước đấy có đặt hàng với nhà thơ một bản trường ca về đề tài chống tôn giáo cho số tạp chí sắp tới của mình. Bản trường ca này Ivan Nikolaievich đã sáng tác xong, và phải nói là trong một thời hạn hết sức ngắn; nhưng thật đáng tiếc, nó hoàn toàn không làm ông tổng biên tập thỏa mãn. Bezdomnưi đã nhuộm nhân vật chính của tác phẩm, tức là Chúa Giesu Christ, trong những mảng màu đen tối, nhưng dù sao thì, theo ý kiến của ông tổng biên tập, cũng phải viết lại toàn bộ bản trường ca. Và bây giờ ông gần như đang đọc cho nhà thơ một bài thuyết giảng về Giesu, qua đó nhấn mạnh cái sai lầm cơ bản của nhà thơ. Khó có thể nói cái gì đã làm cho Ivan Nikolaievich đi chệch hướng „khả năng tạo hình ảnh của anh hay là sự thiếu hiểu biết hoàn toàn về vấn đề anh đang viết”, nhưng trong tác phẩm, Giesu được anh xây dựng thành một nhân vật rất sinh động, mặc dù không có sức lôi cuốn tí nào. Còn Berlioz lại muốn chứng minh với nhà thơ rằng: cái cơ bản không phải ở chỗ Giesu là người như thế nào, tốt hay xấu, mà ở chỗ trên đời này hoàn toàn không hề tồn tại một Giesu nào cả, và toàn bộ những câu chuyện về ông ta đều là những điều thuần túy bịa đặt, một huyền thoại tầm thường nhất.
Nên lưu ý rằng, ông tổng biên tập là người đọc nhiều và biết cách khéo léo viện dẫn những nhà sử học cổ đại, chẳng hạn như Philion Aleksandreus [8] lừng danh hay Jozefh Phlavius [9] thông thái, những người không bao giờ nói một lời nào về sự tồn tại của Giesu. Tỏ ra có một vốn kiến thức đồ sộ, Mikhail Aleksandrovich thông báo với nhà thơ rằng cái đoạn nói về cuộc hành hình Giesu ở quyển mười lăm, chương bốn mươi tư trong bộ Sử biên niên của Taxitus [10] chỉ là một sự chép thêm vào sau này không hơn không kém.
Ðối với nhà thơ, tất cả những gì ông tổng biên tập nói ra đều là mới mẻ, vì vậy anh nghe Mikhail Aleksandrovich rất chăm chú, nhìn thẳng vào ông bằng cặp mắt màu xanh linh hoạt, chỉ thỉnh thoảng lại nấc lên một tiếng và khe khẽ nén giọng nguyền rủa cốc nước mơ.
„Không có một tôn giáo Phương Ðông nào lại không có chuyện nữ đồng trinh sinh ra Chúa“, Berlioz nói. „Và cả những người Thiên Chúa giáo cũng không thể nghĩ ra được điều gì mới hơn, cũng bằng cách đó sáng tạo ra Giesu của mình, kẻ trong thực tế chưa bao giờ có thật trên đời. Ðó mới chính là điều ta cần phải tập trung nhấn mạnh...”
Giọng nam cao của Berlioz vang vang khắp con đường dưới hàng cây vắng vẻ, và Mikhail Aleksandrovich càng đi sâu vào những ngóc ngách hóc búa „chỉ có những người thật thông tuệ mới liều mạng xông vào mà không sợ ngã gẫy cổ“, thì nhà thơ càng được biết thêm nhiều điều thú vị và bổ ích về Oziris [11] của Ai Cập, vị thần tốt bụng, con trai của Trời và Ðất; về thần Phammuz [12] của người Phinikia [13] ; về thần Mardus [14] ; thậm chí cả về thần Vitsliputsli [15] dữ tợn ít nổi tiếng hơn, từng một thời được những người Astec ở Mehico rất sùng bái.
(còn tiếp)
xin lỗi em nhớ nhầm.
cái này bên tavatas chủ nhật ạ
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn vhnga cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), Vania (14-05-2010)