Trích:
micha53 viết
Và liên tiếp những ngày sau đó, không thấy mít tinh, tuần hành mừng Quốc khánh, trời mưa hoài nhưng ngoài đường rất đông người, người lớn bám vào các địa điểm có loa công cộng để nghe tin tức về sức khỏe của Bác vì không phải nhà nào cũng có radio.
.......
Điếu văn do Đ/c Lê Duẩn đọc nghe thật cảm động và cả quảng trường Ba đình vang lên từng hồi “Xin thề..” thật oai hùng.
40 năm đã qua, cùng với những kỉ niệm về những ngày tháng Chín – 69 là những hoài niệm “ bao giờ cho đến ngày xưa”.
|
Tối thứ bảy vừa qua, 29/8/2009, chương trình nghệ thuật "Hồ Chí Minh, Cả một đời vì nước vì dân" đã được phát trực tiếp từ Quảng trường Ba đình lịch sử, truyền trên VTV1, VTC1, HTV9, VTV4...
Các phóng sự phát phát trong chương trình đã cho ta thấy lại những hình ảnh như trong bài viết trên của bác Micha53 đã nói đến: những người dân với khuôn mặt âu lo xúm quanh cột điện có gắn loa để nghe tin tức về sức khỏe của Bác ( chợt nhớ đến một hình ảnh tương tự: những người dân Xô viết lam lũ, lo âu đứng vây quanh cột điện, trên có loa phóng thanh để chờ nghe giọng đọc của Levitan báo tin quân Đức xâm lược Liên xô 22/6/1941), Đ/c Lê Duẩn đọc điếu văn với giọng Quảng Trị như nghẹn lại...Hungmgmi ấn tượng nhất là khi ông đọc những câu văn điệp lại:"Vĩnh biệt Người, chúng ta thề...".
Người dự thảo ra Điếu văn đó là ông Đống Ngạc, thư ký của đc Lê Duẩn. Mời các bác đọc bài viết sau để biết rằng bản điếu văn đã ra đời trong hoàn cảnh như thế nào:
Người viết dự thảo Điếu văn truy điệu Bác Hồ
Thứ sáu, 29 Tháng 8 2008 15:55
LTS: Trong những ngày cả nước hướng về Quốc khánh 2-9, cũng là ngày Hồ Chủ tịch kính yêu về cõi vĩnh hằng, ông Đống Ngạc, đã 84 tuổi, quê ở Tam An (nay là Tam Đàn, Phú Ninh) - nguyên Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Duẩn, đã kể về chuyện ông được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ viết dự thảo Điếu văn truy điệu Bác Hồ...
Bác Hồ ra đi ngày 2-9-1969. Trong những ngày này ban lãnh đạo tối cao của Đảng liên tiếp tổ chức nhiều cuộc hội nghị bất thường, trong đó coi nhiệm vụ viết Điếu văn là việc vô cùng quan trọng và cấp bách. Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ này cho các đồng chí khác viết từ rất sớm, chứ không phải giao cho chúng tôi, nhưng mãi đến 10 giờ 30 ngày 6-9, anh Ba (Tổng Bí thư Lê Duẩn) đi họp về mới gọi tôi và anh Xuân (Đậu Ngọc Xuân - nguyên Trợ lý Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn - Ủy viên Trung ương Đảng) đến phòng làm việc và đưa bản Di chúc của Bác cùng 2 bài điếu văn của ai đó đã dự thảo. Anh Ba bảo: “Có hai bản dự thảo đây nhưng Bộ Chính trị không thông qua vì thấy chưa đạt yêu cầu, bây giờ hai chú viết cho tôi bài điếu văn khác”. Nghe anh Ba nói vậy, dù trong lòng vô cùng phấn khởi là được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ nhưng lại rất lo bởi vì chúng tôi chưa bao giờ làm việc này, hơn nữa viết Điếu văn đối với một vị lãnh tụ lớn, một vĩ nhân như Bác Hồ thì viết như thế nào để cho đạt yêu cầu quả là rất khó.
Biết nhiệm vụ này vượt quá khả năng của chúng tôi nên anh Ba động viên và dặn: “Viết điếu văn cho Bác thì đừng viết dài nhưng phải nêu bật những tư tưởng lớn của Bác để lấy đó khích lệ đồng bào tiếp tục phấn đấu thực hiện theo tư tưởng của Bác. Tư tưởng của Bác là gì? Đó là tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” - Tất cả phấn đấu vì độc lập tự do cho Tổ quốc. Bác là người kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, làm thế nào để thực hiện cho được đất nước độc lập và đưa đất nước đi lên CNXH. Bác là người phát huy chủ nghĩa yêu nước cao nhất, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản gắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Bác là người hết lòng xây dựng, vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc, lấy đó làm chỗ dựa chiến đấu chống xâm lược và xây dựng đất nước. Bác là người đề xướng ra chính sách lớn nhất đó là “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Bác là người có tấm lòng nhân ái rộng lớn, người có tinh thần phục vụ nhân dân cao nhất, lấy mục tiêu phục vụ nhân dân làm mục đích chiến đấu của mình. Đó là con người “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Những tư tưởng đó, đạo đức đó là cái gốc tạo nên sức mạnh của Đảng, vì vậy phải lấy đó để động viên đồng bào, chiến sĩ phấn đấu học tập, tiếp tục hoàn thành sự nghiệp của Bác”. Anh Ba còn căn dặn: “Các chú phải chọn cách viết, viết thế nào để đi được vào lòng người, nhất là tránh sáo mòn”.
Nhiệm vụ đã được giao nhưng trong tay không có văn bản, không có tài liệu gì cả, bỗng nhiên anh Xuân nảy ra sáng kiến: “Trước hết cậu với mình phải đi tìm các bài điếu văn mẫu mực, và kinh điển nhất từ trước đến nay để đọc xem kiểu viết như thế nào”. Chúng tôi thống nhất giao cho mấy anh em giúp việc đi lục các tủ sách tìm ra 3 bài điếu văn, trong đó có bài điếu văn của Ăngghen đọc trước mộ của Các Mác, bài điếu văn của Stalin đọc tại Lễ truy điệu Lênin và bài điếu văn của Bác Hồ viết khi truy điệu cụ Hồ Tùng Mậu. Đọc xong chúng tôi vạch ra dàn bài, tuyệt đối không lệ thuộc gì về các bản thảo cũ đó cả, mà viết theo ý của anh Ba chỉ đạo.
Công tác chuẩn bị xong, đến 12 giờ khuya ngày 6-9 chúng tôi mới ngồi vào bàn để viết nhưng không lẽ hai người cùng viết thì viết như thế nào, chúng tôi thỏa thuận mỗi người đều viết từ A đến Z khi nào xong đọc lại thấy đoạn nào tốt thì lắp ráp cho hoàn chỉnh. Nói xong, chúng tôi ngồi mỗi người một bàn, nhưng sau đó không lâu tôi liếc qua thấy anh Xuân không còn ở trong tư thế ngồi viết nữa mà gục đầu xuống mấy tờ giấy đang viết dở dang, thấy vậy tôi bàn với mấy anh em thu xếp cho anh Xuân chỗ nằm ngay trong phòng làm việc để ảnh nghỉ ngơi vì những ngày qua ảnh quá mệt. Còn một mình tôi tiếp tục công việc, cố gắng hoàn thành trong đêm như lời anh Ba dặn.
Trong tâm tưởng của mình, tôi thấy Bác Hồ quá thiêng liêng và vĩ đại. Cứ nghĩ Bác đi công cán ra nước ngoài vài ba tháng rồi Bác lại về như những lần trước mà thôi cho nên hạ bút viết câu Bác Hồ đã mất thì không viết được vì cảm thấy mình có tội với Bác cho nên ngồi vào bàn từ 12 giờ khuya nhưng cứ cắn bút mãi đến 1 giờ sáng mới bắt đầu viết được câu đầu tiên: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao, đau thương này thật là vô hạn. Dân tộc ta và Đảng ta mất một vị lãnh tụ thiên tài và một người thầy vĩ đại. Phong trào cộng sản quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và cả loài người tiến bộ mất một chiến sĩ lỗi lạc, một người bạn chiến đấu kiên cường và thân thiết”.
Đến 5 giờ sáng ngày 7-9 bài Điếu văn cơ bản đã xong, tôi đẩy cửa phòng bước ra ngoài để thư giãn thì anh Ba ở phòng gác trên nhìn xuống hỏi “Xong chưa chú?”. Tôi trả lời: Dạ tạm xong rồi. “Thấy có được không?” - Dạ tạm diễn đạt được cái ý của anh hướng dẫn - “Thế thì chú đem lên đây đọc cho tôi xem”. Tôi quay vào phòng làm việc đem bản nháp lên đọc cho anh Ba nghe. Nghe xong, anh nhận xét: “Về cơ bản như thế này là được nhưng chú phải điều chỉnh một số nội dung về tư tưởng cũng như các lời trích của Bác Hồ cho chính xác, đúng với văn bản và soát xét lại những từ ngữ nào chưa chuẩn, chưa đạt yêu cầu phải sửa lại và kết thúc điếu văn chú cũng phải sử dụng bằng một câu khẩu hiệu, chọn một trong những khẩu hiệu mà Ban Tuyên huấn Trung ương đã trình với Bộ Chính trị”. Tôi đứng dậy định đi xuống phòng làm việc để sửa, nhưng anh Ba nói: “Chú thức cả đêm, mệt rồi cứ thế đánh máy rồi gởi cho Bộ Chính trị, gởi cho các đồng chí Bí thư và đề nghị Văn phòng Trung ương triệu tập cuộc họp vào 8 giờ sáng ngày mồng 7-9 để Bộ Chính trị đọc thông qua, ai có ý kiến đóng góp rồi sửa luôn một thể cũng được”. 11 giờ, anh Tố Hữu và anh Hoàng Tùng từ trong phòng họp bước ra nói với chúng tôi: “Bài Điếu văn đã được thông qua, bây giờ các cậu phải sửa lại theo ý kiến của Bộ Chính trị”. Trên cơ sở các bản góp ý, chúng tôi tiến hành sửa từ 11 giờ trưa cho đến 13 giờ chiều mới xong bản sửa đầu tiên (tất thảy là 5 lần sửa, nhưng lần sửa đầu tiên là quan trọng nhất). Sau đó chúng tôi trình cho anh Ba, anh xem và tán thành nhưng anh bảo phải gởi cho các anh Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Tố Hữu và anh Hoàng Tùng tiếp tục góp ý. Như vậy từ 13 giờ chiều đến 18 giờ tối ngày 7-9 chúng tôi đã hoàn chỉnh bài Điếu văn, nhưng biết anh Ba đang mệt, sáng ngày 8-9 mới trình lại cho anh Ba, anh đọc xong rồi nói: “Tôi người Quảng Trị nói đồng bào khó nghe lắm, vì vậy tôi cần phải tập đọc trước mới được”. Thế là ảnh ngồi giữa phòng làm việc để đọc nhưng đọc được vài câu lại phải dừng vì nghẹn ngào nhất là đọc đến đoạn: “Lúc còn sống, Người dành tất cả lòng hiền từ ấm áp cho đồng bào, con cháu, già, trẻ, gái, trai, miền Bắc, miền Nam, miền xuôi, miền ngược. Khi mất đi Người còn để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” thì ảnh khóc nức nở...
Bài Điếu văn được Đồng chí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn đọc tại Lễ truy điệu tiễn biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh về với cõi vĩnh hằng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban lễ tang Nhà nước tổ chức vào sáng ngày 9-9-1969 đầy xúc động đã làm hàng triệu triệu con tim người Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài như ngưng đập, lồng ngực như vỡ toang, tràn ngập nỗi đau vô hạn...
ĐỐNG NGẠC, kể
NGUYỄN ĐIỆN NGỌC, ghi
http://baoquangnam.com.vn/index.php?...889&Itemid=199