View Single Post
  #7  
Cũ 20-08-2009, 10:31
htienkenzo's Avatar
htienkenzo htienkenzo is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Jul 2008
Đến từ: Tp. Hồ Chí Minh
Bài viết: 1,673
Cảm ơn: 6,806
Được cảm ơn 3,570 lần trong 1,133 bài đăng
Default Để hiểu thêm thực chất nhà nước Liên bang Nga

Để hiểu thêm thực chất nhà nước Liên bang Nga, “người anh cả” của Việt Nam một thời: Kỷ nguyên tăm tối, hậu công sản chủ nghĩa hay là “hố đen” của lịch sử Nga
V. B. Pastukhov
Lã Nguyêndịch
Nếu được hỏi, xã hội anh đang sống là xã hội thế nào, chắc chắn, mọi người Nga hiện thời đều thấy khó trả lời. Xã hội xã hội chủ nghĩa từ lâu đã không còn, mà chủ nghĩa tư bản thì hẳn là không đúng. Có vẻ như không phải là toàn trị, nhưng bảo là dân chủ thì cũng sai bét. Nước Nga đã đến từ đâu đó, và cứ thế, nó cũng chẳng đi đâu. Nước Nga chính là hình ảnh tượng trưng của chủ nghĩa siêu thực. Nhân dân Nga đang sống trong xã hội “hậu cộng sản chủ nghĩa”, tức là xã hội sau cộng sản, một xã hội chưa thấy ở đâu có như thế bao giờ.
Hễ ở đâu lí trí bất lực, thì ở đó cảm tính lên ngôi. Khi những liên tưởng ngẫu nhiên, những so sánh bề mặt đã hình thành trong ý thức quần chúng – lúc đầu chỉ rời rạc, tản mạn – về sau, chúng sẽ cố kết lại với nhau tạo thành một hình tượng rắn chắc. Hình tượng ấy phản ánh hiện thực, có thể chính xác nhiều hay ít. Nhưng bất chấp mức độ phù hợp với đối tượng được phản ánh, hình tượng kia, tự nó, vẫn có thể hoá thành hiện thực mà người ta buộc phải tính đến. Một chiến hữu cùng cánh chính trị với Tony Blair có lần nói: “Trong chính trị, tri giác quan trọng hơn thực tế”.
Thời đại Trung cổ kiểu mới
Nước Nga được xem là một xã hội Trung cổ kiểu mới. Hình tượng này ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Hoàn toàn có thể giải thích được hiện tượng ấy: người ta thấy mình không được bảo vệ, trước hết là trong chính trị và xã hội, sau nữa là đời sống cá nhân. Bạo lực và cùng với nó là sự thất thường đang trở thành hai nhân vật chính yếu hoành hành trên sân khấu lịch sử của nước Nga hiện nay. Trong khi đó, luật pháp, kỉ cương và những ưu thế của thời đại văn minh ngày càng có vị trí nhỏ bé trong đời sống xã hội. Tất cả những điều đó buộc người ta phải liên tưởng tới những kỉ nguyên “tăm tối” của lịch sử. Kiểu ví von so sánh như thế, thời trước là hết sức cá biệt, người ta chỉ dám hé lộ một cách rụt rè, nay đã trở thành ý kiến đồng thuận trong dư luận đại chúng.
Tuy nhiên, đằng sau những chuyện vừa nói vẫn có một cái gì đó hết sức huyền bí. Vì sao ở nước Nga, phải mãi đến bây giờ, hình tượng về một “thời đại Trung cổ kiểu mới” mới thực sự hoàn kết? Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận chính xác hơn mối liên hệ giữa các thời đại trong lịch sử hiện đại của nước Nga. Chúng ta phải thấy cái giai đoạn được “phục dựng” sau chót của lịch sử không những không phủ định giai đoạn trước nó (luận điểm này về cơ bản là đúng, nhưng đôi khi được giải thích một cách phiến diện), mà còn giữ lại mối liên hệ hữu cơ với thời kì “phá hoại” trước kia, giống như nó được thoát thai từ đó và là sự tiếp tục hợp lí của thời kì ấy. Thời đại ngày nay và thời đại trước kia đang hợp lại với nhau tạo thành một khuynh hướng vận động phổ quát của lịch sử, một sự vận động không vội vã thay đổi bước đi của mình.
Thoạt nghe, câu chuyện về thời đại Trung cổ kiểu mới ở Nga có vẻ chỉ là câu chuyện mang tính chính luận thuần túy. Bởi vì thời đại Trung cổ kiểu phương Tây chưa từng có ở Nga, cũng như bao nhiêu thứ có thể tìm thấy trong lịch sử châu Âu, ví như chế độ phong kiến hoặc chiếm hữu nô lệ, đều không hề có ở nước Nga hiện đại. Nhưng trong cách sử dụng hiện nay, thuật ngữ “thời đại Trung cổ” không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn có ý nghĩa triết học và văn hoá học. Hoàn toàn có thể nói về thời đại Trung cổ ở nước Nga với ý nghĩa như vậy.
Tức là thời đại Trung cổ được hiểu như một hiện tượng tổng hợp, một vùng đệm lịch sử chia tách sự tàn lụi của nền văn minh này với sự nẩy sinh của một nền văn minh khác ở trên cùng một địa điểm. Có ý kiến cho rằng, ở thời điểm ấy của lịch sử, rất dễ nhận ra sự phát triển tiệm tiến bị gián đoạn, hướng vận động đi lên bị ngắt quãng. Nền văn hóa này không thể thế chỗ cho một nền văn hóa khác, nếu ở một thời gian nào đó chưa có một khoảng trống dẫn tới sự phát triển hỗn loạn của những mảnh văn hóa chẳng dính dáng gì với nhau – những mảnh vỡ của cái cũ và những cái tựa như “hạt giống của cái mới” – bị cơn lốc xoáy của thời đại trì trệ cuốn vào một điệu vũ liên tục và bất tận.
Jane Jacobs đã khởi xướng cách giải thích khó có thể gọi là bình thường như thế về thời đại Trung cổ. Trong cuốn Hoàng hôn của nước Mĩ, bà viết: “Thời đại Trung cổ dạy ta nhiều thứ, vì nó cung cấp các ví dụ về sự đột suy văn hóa một cách sống động hơn, rõ ràng hơn so với sự tàn lụi dần dần của nó […]. Thời đại Trung cổ là một thử thách khốc liệt, kinh khủng hơn cả bệnh mất trí nhớ nhất thời mà nhiều người sống sót sau các trận động đất lắm khi phải trải qua. Thời đại Trung cổ đồng nghĩa với sự mất trí mang tính đại chúng. Đó là đặc trưng cơ bản, là đặc điểm bất biến của nó. Hình tượng cũ trước kia về đời sống biến mất trong vực thẳm của tồn tại giống như là nó chưa từng có bao giờ […]. Thời đại Trung cổ không đơn giản chỉ là sự xoá bỏ quá khứ. Đó không phải là trang sách trống không: muốn lấp đầy khoảng trống đã được tạo ra cần phải bổ sung vào đó rất nhiều thứ. Nhưng những thứ được bổ sung này lại chẳng có gì chung đụng với quá khứ, nên chúng chỉ làm tăng thêm khoảng cách với quá khứ mà thôi. Nhiều giả thuyết chẳng mấy tiếng tăm về thời đại Trung cổ đã chỉ ra những hiện tượng tượng từng dẫn văn hóa tới chỗ hủy diệt. Sự nối kết vô số những mất mát riêng lẻ đã tẩy xóa khỏi trí nhớ hình tượng trước kia về đời sống. Nó tự thay hình đổi dạng cùng với quá trình nhào nặn, cải biến một quá khứ giàu có thành một hiện tại nghèo nàn, một tương lai đầy bí ẩn”[1].
Cho nên, hễ nơi nào có một nền văn hóa chết đi và một nền văn hoá khác sinh ra, ở đó thời đại Trung cổ lập tức lộ diện. Diễn đạt theo lời của Marx, thì nó chính là “bà đỡ” của văn minh. Tất nhiên, không phải giống loài nào cũng gặt hái được thành công. Một xã hội mải chìm đắm trong “kỉ nguyên tăm tối” không thể biết mình sẽ trở thành cái gì khi bước ra ánh sáng và liệu có còn bước được ra ánh sáng nữa hay không[2]. Có giống loài được sinh ra, có giống loài phải chết đi, và có những giống loài vĩnh viễn tan biến vào bao lớp sóng của lịch sử. Sự thành công hoàn toàn phụ thuộc vào vô số những nguyên nhân khách quan và chủ quan không thể nào tính đếm, vào sự quy tụ của những điều kiện thuận lợi và vào ý chí cho phép tận dụng những điều kiện thuận lợi kia. Sống trong thời đại bi kịch ấy, con người như bị ném xuống đáy giếng lịch sử, từ đó, nó chỉ còn biết ngửa mặt nhìn lên qua bức tường kinh nghiệm văn hóa của bản thân và đành phỏng đoán diện mạo của nền văn minh tương lai qua khe ánh sáng le lói lọt xuống từ miệng giếng. Nước Nga hôm nay đã bị “xô xuống” một trong những cái giếng văn hóa Trung cổ như thế. Ở giai đoạn này, sự phát triển gần như đã bị dừng lại. Xã hội bị “treo” trong thời gian và không gian, và tình trạng “treo” ấy có thể rất lâu, kéo dài hàng nhiều thế kỉ. Thời đại Trung cổ, đó là “hố đen” lịch sử đẩy đất nước ra khỏi ngữ cảnh thế giới. Tức là nước Nga thì vẫn còn, nhưng đời sống lịch sử thì đã bỏ nước Nga mà ra đi[3].
Dĩ nhiên, lịch sử vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi đời sống lịch sử đã kết thúc. Ở đâu sự vận động lịch sử bị biến mất, ở đó sẽ còn lại sự lăng xăng đôn đáo của lịch sử. Mọi người vẫn cư trú dưới “đáy giếng Trung cổ”, vẫn tiếp tục sống cuộc sống của cá nhân giống như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Họ không biết rằng đời sống lịch sử của họ đã hoàn toàn kết thúc.
Sự biến mất của luật pháp
Rất khó đoán định những trật tự cũ trong đời sống mới nói trên. Có một cái gì đó vẫn hiện diện trong dạng “những mảnh vỡ đã được hợp thức hóa”, một cái gì đó vẫn tiếp tục vận hành theo sức ỳ của quán tính, một cái gì đó đã “thay đổi diện mạo” đến mức không thể nhận ra và bây giờ được xem là cái tuyệt đối mới mẻ, tân kì. Chỉ có một yếu tố đã biến mất hoàn toàn, đã hòa tan, chẳng để lại tăm tích gì trong “nước giếng”, ấy là luật pháp.
Ở nước Nga, luật pháp chỉ còn giữ được cái mã bề ngoài. Nó tồn tại một cách hình thức (vẫn có hàng trăm nghìn điều luật đang có hiệu lực, vẫn có các cơ quan bảo vệ pháp luật và thậm chí, có rất nhiều nhà tù). Nhưng pháp luật chỉ dành cho những ai không đủ tài lực để bẻ quẹo nó, vượt qua nó. Pháp luật đã đánh mất phẩm chất cơ bản – tính phổ quát. Nó đã trở thành thứ “sơn ăn tùy mặt”, thành loại “ma bắt tuỳ người”. Nó được vận dụng tùy theo hoàn cảnh: người này thì có thể bị buộc tội bằng tất cả những luật lệ hiện có, thậm chí không có; nhưng người kia lại được miễn trừ mọi trách nhiệm, nghĩa vụ, được đứng ngoài luật pháp. Hiện tượng được gọi là “tư pháp tùy mặt” đã trở thành bản chất, thành khối kiến tạo hệ thống, thành hòn đá thử lửa của xã hội Trung cổ thời mới. Pháp luật thực sự trở thành cái mang tính cá biệt, hiểu theo nghĩa, nó trở thành công cụ nằm trong tay những nhân vật hoàn toàn cá biệt. Cái chết của pháp luật Nga khiến xã hội Nga ngày nay bị cầm tù dưới đáy giếng lịch sử, không cho nó thoát ra khỏi cái “đáy nhơ nhớp” ấy.
“Dưới đáy” các trò chơi cũng có luật lệ riêng. Đó là các luật lệ điều chỉnh hành vi tự phát của những con người chỉ gắn kết với nhau một cách hình thức bởi cùng chung một quốc tịch, nhưng thực chất bên trong họ đã đánh mất hoàn toàn mọi mối liên hệ về tinh thần, chính trị và xã hội. Nước Nga hôm nay là một quốc gia phù du, tồn tại theo quán tính có được nhờ sự thống ngự của quyền năng lịch sử (truyền thống) đối với không gian địa lí (lãnh thổ). Mặt mũi của nó được xác định bởi hai hằng số: mức độ bạo lực cao và vai trò rất khiêm tốn của luật pháp.
Sự tồn tại của một quốc gia phù du bao giờ cũng là cuộc đụng độ của hàng triệu ý chí khác nhau, không được tổ chức từ bên trong bằng luật lệ tư pháp hay đạo đức. Ngày nay, không có chuẩn mực pháp luật hay tôn giáo nào được hiện thực hóa ở nước Nga một cách trọn vẹn. Kiểu đạo đức hai mặt đang được xem là chuẩn mực hiện nay (cuộc đấu tranh của cảm hứng tinh thần chống lại chất văn xuôi của thói tham lam, trục lợi) hoàn toàn phù hợp với sự phân đôi trong mọi lĩnh vực công cộng thành đời sống theo pháp luật và đời sống theo nhận thức. Ở nước Nga bắt đầu xuất hiện lối sống giấu mặt: kinh tế đen, xã hội đen (giáo dục, y tế), văn hóa đen và hoàn toàn có thể có cả hệ tư tưởng đen (chủ nghĩa dân tộc thù địch). Trong một xã hội như vậy, ai cũng bị điều khiển bởi những quyền lợi cá nhân ích kỉ, người ta chỉ dừng lại khi bị đẩy tới chân tường, phải đối mặt với những ý chí mạnh mẽ hơn.
Bạo lực là luật lệ hiện hành có hiệu quả duy nhất của xã hội Trung cổ kiểu mới. Vai trò của bạo lực nhiều khi được đơn giản hóa. Nó được xác định chủ yếu như là sự độc đoán, chuyên quyền của quốc gia. Người ta chỉ trích thói chuyên quyền, độc đoán của chính quyền Nga và cho rằng mọi sự đều bắt nguồn từ sự thiếu vắng dân chủ. Trong thực tế, vấn đề này vô cùng phức tạp. Sự độc đoán của chính quyền hiện đại chỉ là phần ngọn của núi băng trôi. Gốc rễ của nó được cắm rất sâu trong một xã hội thường diễn ra liên miên những cuộc nội chiến của tất cả mọi người chống lại tất cả mọi người. Rất dễ tìm thấy vô khối những nhà tiên tri dối trá sẵn sàng trỏ tay vạch mặt chính quyền, xem đó như là nguyên nhân của sự độc đoán. Tuy nhiên, phải có lòng dũng cảm và bộ óc mẫn tiệp để mà thừa nhận, rằng bản thân xã hội mới là nguồn cội chính yếu của bạo lực.
Sự độc đoán, chuyên quyền lập tức xuất hiện, khi có một gã nào đó, vừa to con, vừa trâng tráo xấc xược, xô đẩy cả trẻ em lẫn người hưu trí, chen ngang, không xếp hàng, tiến vào quỹ tiết kiệm, và hắn chỉ dừng lại khi có một gã khác, cũng to con như thế, trâng tráo như thế, tay cầm những tờ ngân phiếu bạc tỉ xông vào đúng cái quỹ tiết kiệm kia, dùng tiền ấy mà mua cổ phần nhà băng, khoắng hết nhẵn của cả người hưu trí lẫn trẻ em. Hành vi của những gã vô sỉ này chỉ khác ở mức độ, chứ không khác ở tính chất. Bản chất của sự vật toát lên từ hành vi của chúng không có gì thay đổi. Bởi vì đối cực của bạo lực là pháp luật, mà pháp luật thì không có hiệu lực, nên địa vị của một con người cụ thể (từ kẻ thất nghiệp đến tên đầu sỏ của tập đoàn thống trị) trong xã hội Nga hiện thời, rốt cuộc lệ thuộc vào bạo lực trắng trợn, hay bạo lực được nguỵ trang, tức là lệ thuộc vào ý chí cá biệt, hay là sự may rủi của hoàn cảnh.
Tình huống tư pháp hiện thời đòi hỏi phải nhìn vào pháp luật từ một góc độ rộng rãi hơn so với cách nhìn bình thường, trong đó dứt khoát phải bao gồm cả bối cảnh xã hội và văn hóa cộng đồng.
Giờ đây, vấn đề luật pháp đã trở thành vấn đề cơ bản trong chương trình nghị sự chính trị thường nhật. Nhưng ở đây không có sự đồng thuận, ý thức về mức độ gay gắt của vấn đề được hình thành rất chậm. “Bình diện văn hóa” của vấn đề pháp luật vẫn tiếp tục không được nhìn nhận thỏa đáng. Vai trò của pháp luật với tư cách là công cụ quan trọng hàng đầu trong việc phát triển văn hóa vẫn chưa được phát hiện đầy đủ. Với người Nga, trong ý thức của cả bộ phận ưu tú, lẫn quảng đại quần chúng, pháp luật chỉ là công việc thứ yếu, là vấn đề thuộc bình diện thứ hai, có thể gác lại để giải quyết sau, hoặc nếu ưu tiên, thì cũng chỉ có thể giải quyết đồng loạt với những vấn đề kinh tế hoặc xã hội.
Trong thực tế, muốn đổi mới “đời sống lịch sử” ở Nga, việc khôi phục trật tự pháp luật là conditio sine qua non[4]. Đó không chỉ là một trong những điều kiện, mà còn là điều kiện tiên quyết có khả năng tạo tiền đề để giải quyết tất cả các vấn đề khác: kinh tế, xã hội và chính trị. Rất tiếc, những vấn đề luật pháp vẫn tiếp tục bị bó hẹp trong tầm nhìn của giới luật gia. Nghịch lí nhất là ở chỗ, hiện nay, thành phần quan tâm nhiều nhất tới những vấn đề pháp lí là các nhà xã hội học, chứ không phải giới luật học.
Pháp luật là nhà khai hóa vĩ đại. Nó tạo điều kiện cho sự xuất hiện và sự phát triển của các xã hội, duy trì xã hội ổn định. Sứ mệnh cơ bản của nó là hình thành các luật chơi vững chắc đảm bảo cho khả năng dự báo về diễn biến của các quá trình xã hội. Chỉ khi nào có được những luật lệ như thế thì mới có khả năng “tư bản hóa văn hóa” trên nền tảng của tiến hóa lịch sử. Luật pháp có trách nhiệm bảo vệ cho văn hóa hoạt động bền vững. Cho nên, sự xuống cấp của luật pháp tất yếu kéo theo sự xuống cấp của văn hóa.
Vào thời điểm này, hệ thống pháp luật của Nga có vẻ như bị đúc thành nhiều mảng khối ở một số cấp độ: ý thức pháp quyền, hành pháp và tư pháp.
Sự khủng hoảng của ý thức pháp quyền là mối đe dọa lớn nhất của xã hội hiện nay. Chủ nghĩa hư vô trong lĩnh vực pháp quyền của dân chúng Nga đã trở thành “câu chuyện cửa miệng”. Đây là di sản tồi tệ trong ý thức pháp quyền “hậu cộng sản chủ nghĩa” ở giai đoạn khởi thủy. Nhưng nước Nga vốn từng có những truyền thống pháp quyền của mình. Được cấy trồng bởi những cuộc cải cách từ nửa sau thế kỉ XIX, những truyền thống ấy phải trải qua số phận đầy đắng cay trong lửa nóng cách mạng, và đến giữa thế kỉ XX, chúng gần như bị xóa sạch. Phải đến thời “tan băng” Khrushchev, người ta mới lại thấy sự “phục hưng của pháp quyền” và quá trình khôi phục niềm tin vào pháp luật. Thời kì cầm quyền của Brezhnev đã kết thúc một cách kì lạ và trở thành “thế kỉ vàng” của ý thức pháp quyền Nga. Mặc dù sự độc đoán đã nằm sẵn trong hệ thống quốc gia, nhưng hơn bất kì lúc nào, trong hàng ngũ ưu tú của xã hội Xô-viết, pháp luật vẫn chiếm giữ uy thế tuyệt đối. Lí luận pháp quyền giúp đào sâu hiểu biết về luật pháp và bản chất của nó tiếp tục được phát triển. Như một kết quả tất yếu, nguyên tắc quy phạm pháp quyền đã trở thành một bộ phận của hệ tư tưởng nhà nước khi nó được xem là luận cứ quan trọng nhất của học thuyết về dân chủ tập trung của hệ thống chính trị – xã hội. Việc tuân thủ luật pháp được xem là nguyên lí chính thức thuộc ưu tiên hàng đầu của chính sách quốc gia. Theo nhiều công trình nghiên cứu, bản thân tư tưởng “nhà nước pháp quyền” đã ra đời từ lâu trong khuôn khổ của lí luận pháp chế Xô-viết trước khi xuất hiện thời đại của những “phong trào dân chủ”.
(còn tiếp...)
Trả lời kèm theo trích dẫn