Ảnh hưởng của sự vỡ nợ ở Nga lên các thị trường tài chính quốc tế đã được thảo luận rồi. Tác động lên nền kinh tế Nga đã ít tàn khốc hơn dự tính. Sự vỡ nợ về tín phiếu kho bạc đem lại sự dịu bớt cho ngân sách; sự phục hồi giá dầu đã giúp đỡ cả cân đối tài khoá và thương mại; và sự phá giá do Yeltsin công bố mùa hè 1998 đã dẫn tới cầu tăng lên đối với các sản phẩm nội địa. Sau cú sốc ban đầu do sụp đổ hệ thống ngân hàng gây ra, nền kinh tế đến đáy và bắt đầu phục hồi. Các ngân hàng và những kẻ đầu sỏ chịu tổn thất nghiêm trọng, nhưng trong vòng một năm GNP của Nga đã cao hơn mức trước khủng hoảng tài chính. Ngay cả các chủ nợ nước ngoài được chào mời cách giải quyết mà họ thấy thuận lợi để chấp nhận.
Tiến hoá chính trị và xã hội Nga đã ít thoả mãn hơn nhiều. Gia đình Yeltsin, dưới sự chỉ đạo của Boris Berezovsky, đã tìm kiếm một người kế vị người sẽ bảo vệ họ khỏi bị truy tố sau bầu cử tổng thống. Cuối cùng họ đã tìm được một người ở Vladimir Putin, giám đốc Cơ quan An ninh Liên bang. Mùa hè 1999, ông ta được đưa ra làm thủ tướng và được chọn như ứng viên của Yeltsin cho chức tổng thống. Đã có bùng nổ về hoạt động khủng bố Chechen. Khi Shamil Basayev, một thủ lĩnh du kích Chechen, xâm lấn láng giềng Dagestan, Putin đã phản ứng mãnh liệt. Các lực lượng an ninh Nga tấn công những người Chechen và Putin đưa ra tối hậu thư, tuyên bố rằng bọn khủng bố ở Dagestan sẽ được quét sạch vào 25 tháng Tám. Mục tiêu thời gian đã đạt được. Dân cư Nga đã phản ứng lại cách giải quyết tình hình của Putin một cách nhiệt tình, và sự nổi tiếng của ông lên rất cao.
Sau đó một loạt vụ nổ đầy bí ẩn ở Moscow phá huỷ toàn bộ một số nhà chung cư, giết hại khoảng ba trăm người khi họ ngủ. Trong hoảng loạn xảy ra sau đó, sự lo ngại và căm giận hướng chống lại những người Chechen, được trợ giúp bởi một chiến dịch phối hợp cẩn thận giữa các phương tiện báo chí và TV. Putin xâm chiếm Chechnya, và bầu cử Duma được tiến hành trong bầu không khí cuồng chiến. Rất ít các ứng cử viên dám chống lại sự xâm chiếm.
Grigory Yablinsky là một trong số ít đó. Ông đã ủng hộ chiến dịch chống khủng bố ở Dagestan nhưng đã vạch đường đúng ở xâm lấn Chechnya. Sự mến mộ của đại chúng với đảng của ông (Yabloko) rớt thảm hại và chỉ vừa đủ ngưỡng 5 phần trăm phiếu bầu để có mặt ở Duma. Đảng ủng hộ chính phủ, đảng Thống nhất, vừa được vội vã nặn ra mà không có bất kể chương trình nhất quán nào, về hàng thứ hai sau những người Cộng sản, với 23 phần trăm. Liên minh các Lực lượng cánh Hữu, do Chubais, Sergei Kiriyenko, và các nhà cải cách khác lãnh đạo, đi theo Putin và đạt thành tích khá với 8,6 phần trăm. Yevgeni Primakov, người với sự ủng hộ của Thị trưởng Moscow Yuri Luzhkov đã được coi là một ứng viên tổng thống sáng giá, đã bị đánh bại hoàn toàn; đảng của họ chỉ được 13 phần trăm. Sử dụng đà do thắng lợi về bầu cử Duma đem lại, Yeltsin công bố việc từ chức của mình vào Đêm Giao thừa, hầu như thực sự đảm bảo sự lựa chọn Putin như người kế vị của mình. Primakov rút khỏi danh sách ứng cử viên.
Sự nổi lên kì lạ, chẳng biết từ đâu, của Putin đã giống kì quái với mưu mô chính trị đảm bảo sự tái cử của Yeltsin năm 1996. Từ kinh nghiệm lâu đời với Berezovsky, tôi thấy bàn tay của ông ta trong cả hai hoạt động. Tôi gặp ông ta lần đầu liên quan đến đóng góp 1,5 triệu $ của ông vào Quĩ Khoa học Quốc tế khi giám đốc điều hành quĩ, Alex Goldfarb, giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã mô tả cuộc thảo luận được biết rõ ở Davos; rồi sau đó Berezovsky tự cho là chính cuộc nói chuyện này là cái đưa ông đến lập ra một hội ủng hộ cho việc tái đắc cử của Yeltsin. Trong năm 1996 chúng tôi đã có một số cuộc trao đổi rất thẳng thắn về cuộc vận động tái cử; tôi muốn biết ông ta hành động ra sao.
Thế rồi đến thù địch trong đấu giá Svyazinvest, nhưng chúng tôi tiếp tục nói chuyện. Tôi đã cố thử cải biến ông ta từ nhà tư bản ăn cướp thành nhà tư bản hợp pháp; ông cố lợi dụng tôi trong đợt vận động cho chức chủ tịch Gazprom - tổ chức thương mại hùng mạnh nhất nước Nga. Tháng Sáu 1997 ông mời tôi đến Sochi để thăm Viktor Chernomydin, người đã là chủ tịch Gazprom trước khi ông trở thành thủ tướng, và sau đó đưa tôi về Moscow trên chiếc máy bay riêng của ông. Berezovsky nói với tôi rằng cả Chubais lẫn Nemtsov ủng hộ sự đề cử ông. Tôi đã không tin ông ta, nên tôi hỏi Nemtsov. Đó là lần đầu tiên ông nghe về chuyện đó. “Vượt qua xác của tôi” đã là phản ứng của ông.
Sau đó tôi đã ăn trưa với Berezovsky ở “câu lạc bộ” của ông ta, được trang trí, có chủ ý hay không, rất giống sự miêu tả Hollywood về một nơi lui tới của mafia. Tôi là khách duy nhất. Tôi đã không nói cho ông ta Nemtsov nói gì, nhưng tôi đã nói với ông ta rằng tôi đã hỏi Nemtsov và ông ta từ chối biết bất kể thứ gì về yêu cầu của Berezovsky đối với chức chủ tịch Gazprom. Điều này làm cho Berezovsky rất tức giận, và sự tức giận của ông làm tôi ớn lạnh. Tôi thực sự cảm thấy ông ta có thể giết tôi. Và tuy ông ta không nói toẹt ra, ông ta làm cho tôi cảm thấy rằng tôi đã phản bội ông ta bằng cách nói chuyện với Nemtsov. Đó là điểm ngoặt trong quan hệ của chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện với nhau- một lần Berezovsky bay sang New York gặp tôi – nhưng từ đó tôi cố giữ khoảng cách.
Như tôi đã nói, sự bất hoà giữa những kẻ đầu sỏ, và đặc biệt mâu thuẫn giữa Berezovsky và Chubais, là một tình tiết kì quái, mặc dù không kì quái như tiến cử Putin làm người kế vị Yeltsin. Berezovsky nhìn thế giới qua lăng kính của lợi ích riêng của mình. Ông ta chẳng khó khăn gì đặt số phận của nước Nga dưới số phận riêng của mình. Ông ta thật sự tin rằng ông và những kẻ đầu sỏ dầu khí đã mua chính phủ bằng cách trả cho sự tái cử của Yeltsin và rằng chính phủ đã bội ước bằng cách cho phép đấu giá thật sự đối với Svyazinvest. Ông ta quyết tâm hạ bệ Chubais vì đã phản bội ông ta. Khi tôi cảnh cáo ông ta rằng ông ta đang phá huỷ cái lều quanh mình, ông ta trả lời rằng ông ta không có lựa chọn nào; nếu ông ta chứng tỏ bất kể sự yếu đuối nào ông ta không thể sống sót.
Tôi đã không thể hiểu điều này lúc đó, nhưng sau nhìn lại nó hoàn toàn có lí. Berezovsky không thể tiến hành chuyển đổi sang hợp pháp; cơ hội duy nhất của ông ta cho tồn tại là giữ người ta mắc vào tấm lưới các quan hệ bất hợp pháp mà ông ta đã dệt ra. Ông ta đã nắm chặt Yeltsin vì sự giúp đỡ bất hợp pháp mà ông ta dàn xếp cho gia đình Yeltsin. Thí dụ, ông ta đã làm cho con rể của Yeltsin làm giám đốc Aeroflot, thu nhập ngoại tệ mạnh của hãng hàng không được hướng sang một công ti Thuỵ Sĩ gọi là Forus, mà họ giải thích cho tôi, đơn giản có nghĩa là: “For us: Cho Chúng ta”. Điều này đã cho ông ta quyền lực đối với Eltsin mà chẳng kẻ đầu sỏ nào có được.
Berezovsky cũng đã nắm chắc Chubais, và khi đến cực điểm của trục trặc ông ta đã không do dự sử dụng nó. 90.000 $ mà Chubais nhận được ở dạng hợp đồng cho một cuốn sách rởm đã gây ra sự suy sụp tạm thời của ông.
Đây là viễn cảnh mà tôi áp dụng cho các sự kiện tiếp theo. Berezovsky và gia đình Yeltsin tìm cách duy trì mãi quyền miễn trừ mà họ đã hưởng dưới chính quyền Yeltsin. Họ đã thử nhiều cách, một số thật lố bịch. Một lúc Yeltsin, với sự xúi giục của Berezovsky, thông báo cho chủ tịch Duma là ông sẽ bổ nhiệm Nikolai Aksyonenko làm thủ tướng, song Chubais đã can thiệp; văn bản chính thức gửi Duma bổ nhiệm Sergei Stepashin. Rồi thì Stepashin bị đẩy khỏi chức vụ. Tình hình của Berezovsky trở nên tuyệt vọng khi scandal về rửa tiền bất hợp pháp ở ngân hàng Hoa Kì nổ ra năm 1999, vì ông ta biết rằng ông ta không còn có thể tìm thấy nơi ẩn náu ở phương Tây. Bằng cách này hay cách khác ông ta phải tìm ra một người kế vị Yeltsin người có thể bảo vệ ông ta. Đó là khi kế hoạch đề bạt ứng viên Putin được ngấm ngầm bày đặt.
Trong chuyến bay từ Sochi về Moscow vào năm 1997 Berezovsky đã nói với tôi chuyện ông ta đã trả tiền những người cầm đầu quân sự chống Nga ở Chechnya và Abkhasia ra sao. Cho nên khi nhà lãnh đạo Chechen Shamil Basayev xâm chiếm Dagestan, tôi nghi ngờ có sự dối trá. Và tôi đặt ra một thử nghiệm: Liệu Basayev có rút vào thời hạn mà Putin đưa ra không? Ông ta đã rút lui. Ngay có đúng như thế, tôi không thể tin lắm rằng các vụ nổ ở các toà nhà chung cư ở Moscow có thể là một phần của kế hoạch để biện minh cho chiến tranh. Nó đã quá độc ác. Nó có thể không là đơn nhất – lịch sử Nga đầy rẫy các tội ác do những kẻ khiêu khích bị nhử gây ra, từ Azev điệp viên ở thời sa hoàng cho đến mưu sát Kirov, được dùng để biện minh cho sự thanh trừng của Stalin – nhưng bản thân nó tuy vậy sẽ là một hạng thật khác biệt.
Tuy nhiên, tôi không thể loại trừ khả năng ấy. Từ quan điểm của Berezovsky việc đặt bom có lí hoàn toàn. Các cuộc tấn công khủng bố này không chỉ chọn một tổng thống, người sẽ cho Yeltsin và gia đình ông sự miễn trừ; chúng cũng để cho Berezovsky nắm chắc Putin. Cho đến nay, không có bằng chứng nào nổi lên phủ nhận lí thuyết này.
Trong khi chúng ta có thể chẳng bao giờ tìm ra sự thật về các vụ nổ ở Moscow, không có nghi ngờ gì rằng chiến tranh ở Chechnya đã đẩy Putin đến chiến thắng. Tôi thấy điều này, nói giảm nhẹ đi, gây đau đớn. Giữa 1994 và 1996, trong chiến tranh trước ở Chechnya, dân Nga bị đau khổ khi họ nhìn trên TV sự tàn phá và đau khổ mà sự xâm lấn Chechnya gây ra. Sự phản đối của các bà mẹ những người lính và các nhà hoạt động nhân quyền như Sergei Kovalev đã giúp dẫn đến sự giải quyết qua đàm phán. Lần này phản ứng của dân cư Nga trái ngược rõ rệt với thái độ trước. Phải thừa nhận là những kẻ khủng bố Chechen phải chịu lỗi chính; chúng bắt các công nhân trợ giúp và các nhà báo, giữ họ để đòi tiền chuộc, và nhiều khi giết họ. Fred Cuny, anh hùng của Sarajevo, đã bỏ mạng theo cách này. Hầu như chẳng có ai dám dích vào chuyện giúp những người Chechen hay đưa ra công khai sự tàn nhẫn mà họ phải chịu. Cũng đã có sự thao túng khéo léo tình cảm công chúng chống lại chúng. Sự thực vẫn là thái độ của dân Nga là rất khác thái độ vài năm trước.
Ban đầu của thời kì sau Gorbachev, người Nga có ác cảm tích cực chống bạo lực. Thực ra, có rất ít máu chảy trong những ngày đầu, và hiếm khi người ta bị giết - ở Tbilisi, Georgia, ở Vilnius, Lithuania, và tháng Mười 1993 ở trụ sở của Duma – công luận quay ra phản đối những kẻ sử dụng vũ lực. Không còn thế nữa. Bằng bầu Putin tháng Ba năm 2000, người dân Nga bị dính líu vào sự chém giết ở Chechnya.
Có một lí thuyết rằng một nạn nhân người bị hành hung đủ mức trở thành bị lôi kéo vào bạo lực. Hình mẫu khớp với trường hợp của nhiều kẻ phạm tội hung dữ và nó dường như cũng áp dụng cho bạo loạn sắc tộc. Những người Serb từ lâu tự coi mình là các nạn nhân, và Slobodan Milosevic đã có thể lợi dụng tình cảm này trong theo đuổi chính sách thanh lọc sắc tộc. Cái gì đó tương tự dường như đã xảy ra ở Nga.
Putin sẽ cố tái lập một nhà nước mạnh, và rất có thể ông sẽ thành công. Theo nhiều cách, đó có thể là một sự phát triển đáng mong mỏi. Như bài học Nga đã dạy chúng ta, một nhà nước yếu có thể đe doạ đến tự do. Một chính quyền có thể thực thi pháp luật là không thể thiếu được cho sự hoạt động của một nền kinh tế thị trường. Bằng thực hiện chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản ăn cướp sang chủ nghĩa tư bản hợp pháp, Putin có thể hoàn toàn chỉ huy sự phục hồi kinh tế Nga; các khoản đầu tư của tôi ở Nga –bao gồm Svyazinvest – có thể cuối cùng có kết quả.
Nhưng nhà nước của Putin chắc không được xây dựng trên các nguyên lí của xã hội mở; có khả năng hơn nó sẽ dựa trên sự suy đồi đạo đức, nỗi nhục, và thất vọng mà nhân dân Nga đã trải nghiệm sau sự sụp đổ của hệ thống Soviet. Putin sẽ tìm cách tái thiết lập uy quyền của nhà nước ở trong nước và vinh quang của nước Nga ở nước ngoài. Nước Nga không mất đi; ngược lại, nó có thể hồi sinh với Putin. Nhưng phương Tây đã mất Nga như một người bạn và đồng minh và như một người ủng hộ các nguyên lí của xã hội mở. Một thứ rõ như pha lê: Triển vọng mà chúng ta đối mặt ở nước Nga đã có thể tránh được nếu bản thân các xã hội mở của phương Tây đã cam kết vững chắc hơn cho nguyên lí của xã hội mở.
Trong bài nói từ biệt, Yeltsin đã xin nhân dân Nga thứ lỗi:
(còn tiếp...)
|