Sau giải phòng Thủ đô, cuối năm 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội gia đình mình và một số gia đình được xếp ở ngay trong cơ quan tại phố Nguyễn Thái Học. Đến năm 1959 thì chuyển ra khu tập thể cơ quan ở đường Đại La (sau đổi tên là phố Giảng Võ). Phố Giảng Võ hồi đó là một đường chứ chưa phải đường đôi như bây giờ. Bên kia đường Giảng Võ, bên phải là Trường cán bộ y tế, bên trái là khu dân nghèo lao động, đằng sau là những ruộng lúa và bãi đất trống đầy cỏ mọc, thỉnh thoảng ở đấy lại chiếu phim và mình đã xem ở “bãi chiếu phim” đó những phim như “Bài ca người lính, Số phận một con người, Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang...” mấy năm sau thì toàn xem ở rạp Kinh Đô (hồi xem phim “Hồng Lâu mộng” xem 2 giờ khán giả được nghỉ 15 phút rồi xem tiếp 2 giờ nữa mới hết phim) mình lại lan man rồi

. Bên này đường Giảng Võ nối tiếp với khu tập thể nhà mình là khu tập thể K40 của đơn vị quân đội (đối diện khu triển lãm Giảng Võ bây giờ). Ở khu K40 các chú bộ đội trồng rất nhiều chuối, sắn tàu và cây cối. Phía trong khu tập thể của nhà mình cách mấy cái ao, hồ thông nhau là làng Hào Nam. Làng Hào Nam cũng như khu tập thể nhà mình hồi đó rất nhiều ao, hồ, bọn mình thường ra bờ ao ném thia lia và nhổ củ niễng lên ăn sống.

Củ Niễng hồi đó mọc rất nhiều, bóc ra ở trong ruột màu trắng có những lấm tấm đen đen, ăn sống cũng rất ngọt còn món củ Niễng xào rươi thì ngon nhất rồi.

Muốn đi từ phố Giảng Võ vào làng Hào Nam phải đi cái đường đất bé tý rồi qua một cái cầu tre nhỏ bắc qua ao, đầm. Bọn mình hồi bé rất hay vào đó vì trong đó có đình, đền Hào Nam cây cối um tùm, nhiều cây si, cây đa to rễ rất dài và tụi con trai cứ túm những cái rễ đó để đu còn bọn con gái thì nhặt hoa đại, hạt chi chi màu đỏ để chơi.

Hồi chiến tranh chống Mỹ đơn vị bộ đội thông tin đóng trong đó đã làm đường đất thay cho cái cầu tre thế là từ phố Giảng Võ có thể đi vào làng Hào Nam dễ dàng hơn.

Với tốc độ độ thị hóa, sau này không còn dấu vết của làng nữa mà là phố (ngõ, ngách) Hào Nam toàn những ngôi nhà cao, to, đẹp. Đường đi từ phố Giảng Võ vào làng Hào Nam trước đây gọi là “ngõ Hào Nam” nhưng từ năm 2006 Thành phố đã đổi tên là “phố Vũ Thạnh”.

Hồi mới có tên phố Vũ Thạnh mình cũng không biết cụ Vũ Thạnh là ai, cứ nghĩ chắc một cụ hoạt động Cách mạng nào đó.

Một hôm ngồi xem HTV thấy BTV Thanh Vân giới thiệu về phố Vũ Thạnh mới biết. Cụ Vũ Thạnh quê ở làng Đan Loan, huyện Đường An, trấn Hải Dương, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cụ lên Kinh thành Thăng Long sống ở chùa Báo Thiên, là học trò của cụ Tiến sỹ Vũ Công Đạo người cùng quê. Cụ thi Đình nguyên đỗ Thám hoa năm 22 tuổi (1685) đời vua Lê Hy Tông. Cụ làm quan tới chức Bồi tụng và là người rất chính trực. Thời chúa Trịnh Căn cụ từ quan về làng Hào Nam mở trường dạy học. Lớp học có tiếng xa gần, nhiều người ngưỡng mộ cụ, thậm chí bơi thuyền ghé đến sát bên ngoài để nghe cụ giảng bài... Phố Vũ Thạnh ở đầu làng Hào Nam xưa là rất có lý.

Làng Hào Nam xưa thuộc huyện Quảng Ðức, phủ Phụng Thiên, nằm ở phía tây kinh thành Thăng Long, hiện nay thuộc phường Ô chợ Dừa, quận Đống Đa. Trải qua bao biến động của việc đô thị hóa nhưng trong khuôn viên của đình, đền Hào Nam vẫn giữ được một không gian văn hóa cổ kính và linh thiêng. Đình cổ Hào Nam là một trong 269 nơi thờ Đức Thánh Linh Lang Đại Vương – Hoàng tử Hoằng Chân con trai thứ tư của vua Lý Thánh Tông và đền thờ Đức bà Thủy tinh Công chúa (phù Thái úy Lý Thường Kiệt đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt). Linh Lang Đại vương sinh năm 1030, hy sinh vào năm 1077 khi cùng Thái úy Lý Thường Kiệt đánh tan quân Tống trên sông Như Nguyệt. Năm 1994, Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng "Di tích kiến trúc - nghệ thuật" đối với đình, đền Hào Nam.

Hàng năm đình, đền Hào Nam tổ chức lễ hội từ 9 - 13/2 âm lịch, khi rước kiệu lên Đền Voi phục ở Thủ Lệ (nơi thờ chính, có bàn thờ mẫu thân của Linh Lang Đại vương) thì đều có hiện tượng "kiệu bay" (những người khiêng kiệu chân cứ nhấc bổng lên khỏi mặt đất) nên dân làng Hào Nam có câu:
“Dân Hào Nam niềm vui khôn xiết
Khách thập phương dâng lễ rất đông
Dân ta con cháu Lạc Hồng
Hào Nam - Thủ Lệ lạ lùng kiệu bay”.
Sáng nay mình vào trong đình, đền Hào Nam chụp vài ảnh nhưng ảnh lại không được như ý
Đình - đền Hào Nam không chỉ mang dấu ấn văn hóa - nghệ thuật, mà làng Hào Nam nói chung, đình, đền Hào Nam nói riêng còn là một “địa chỉ đỏ”, từng được coi là “chiến khu” trong lòng Hà Nội tạm chiếm.

Ngay từ những ngày đầu cách mạng tháng 8/1945, làng Hào Nam đã là một trong những điểm dừng chân của nhiều cán bộ hoạt động nội thành. Chính tại cây đa giếng làng, Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Trân, đã kêu gọi nhân dân làng Hào Nam xuống đường giành chính quyền vào những ngày tháng 8 lịch sử. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, bên cạnh lớp thanh niên hăng hái lên đường theo tiếng gọi của Bác Hồ, những người ở lại cũng hồ hởi tham gia tự vệ, hoặc đóng góp cho cách mạng bằng nhiều hình thức... Nhận thấy nghĩa tình thủy chung với cách mạng của nhân dân làng Hào Nam, Khu ủy Văn Miếu, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Trà đã quyết định chọn làng Hào Nam và làng Kim Liên để xây dựng trở thành bàn đạp vững chắc, phát triển ra các phố Sinh Từ, Hàng Bột, Khâm Thiên… Đình, đền Hào Nam chính là nơi Ban chỉ huy khu Văn Miếu tổ chức các cuộc họp quan trọng để quyết định những kế hoạch, chủ trương xây dựng phong trào cách mạng, kháng chiến, cũng là nơi cất giấu vũ khí, tài liệu. Trong đình, đền hiện nay còn dấu tích 2 căn hầm bí mật, từng là địa điểm tập kết của các chiến sỹ cách mạng bị giam cầm tại nhà tù Hỏa Lò, Nhà Tiền… vượt ngục trở về tiếp tục chiến đấu.
Với ý nghĩa lịch sử cách mạng của đình - đền Hào Nam, đầu năm 2009, UBND thành phố Hà Nội đã có quyết định gắn biển “Di tích lịch sử cách mạng kháng chiến” đình - đền Hào Nam, để giữ gìn, tôn vinh và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.

Đình, đền Hào Nam đã trở thành “di tích kép”, vừa là di sản văn hóa – nghệ thuật, vừa là chứng tích lịch sử cách mạng kháng chiến của một thời hào hùng, đầy oanh liệt của dân tộc.