Xây tổ nơi xứ lạ…
Hôm 21/9, S. bảo tôi:’Mai đi uống nhé!”. Tôi hỏi:”Có gì vui đấy hả anh?”. S. bảo có gì đâu, mai là anh kỷ niệm 16 năm chui vào rọ, đi nhâm nhi tí thịt chó cho vui. À há, lý do quá tuyệt, cuối tháng, trời Hà Nội sầm sì, chui vào tận Hà Đông, ngồi cạnh cái mương nước mà chén món thịt chó ở quán trên đường Lê Trọng Tấn được nhiều người hào phóng phong cho danh hiệu “ngon nhất Đông Dương” thì còn gì bằng. Thế là đi, đi bốn thằng, trên một cái ô tô dùng xăng của một hãng liên doanh. Mấy khi được xài “của chùa”, kể cũng sướng, còn hơn phóng tồng tộc trên đường đầy người và bụi trên hăm mấy cây cả đi lẫn về.
S. cưới vợ năm 1990, vào đúng ngày này tại một thành phố nhỏ sát ngay biên giới Trung Quốc có tên Blagoveshensk. Thành phố này ít người biết, ngoại trừ một chuyện là năm ngoái năm kia gì đó tôi tìm trên mạng và biết đây là thành phố có…nạn cúm gia cầm đầu tiên của Nga. Cũng lạ, sông A mua trứ danh nơi đây chảy lững lờ nghìn năm thì không mấy ai ngó ngàng gì mấy, ấy vậy mà mấy chú gà mới lử đà lử đử thì đã tràn ngập mạng thông tin toàn cầu. Chính chỗ này, S. và vợ đã nên duyên, tổ chức một đám cưới đầu tiên của người Việt ở nơi thâm sơn cùng cốc này. Cả hai anh chị đều sang đây hợp tác lao động theo nghị định ký giữa hai Nhà nước Việt Nam và Liên xô. Theo lời S., đám cưới của anh chị là một sự lạ của thành phố bé teo này, bởi nó khá rình rang, chí ít là trong khoản ăn hút “bét nhè chè tươi”. Chẳng hiểu căn cớ sao mà S. mời được ông bạn Tây Volodia làm phù rể, còn cô vợ thì lại có một nàng Lutmila xúng xính làm phù dâu. Mọi chuyện diễn ra đều vui vẻ, ngoại trừ chuyện anh bạn Tây cứ lầu bầu về chuyện tại sao chú rể lại cứ gọi anh ta bỗ bã là Vova, trong khi một ngày trọng đại thế này cần phải gọi anh ta một cách tôn trọng hơn là…Volodia. Âý thế, ma chê cưới trách mà, chỉ có điều người trách đây là một anh chàng to béo người Nga.
Trong mấy năm “ở bển”, tôi cũng có dăm ba lần dự đám cưới của bạn bè. Vốn biết nguệch ngoạc đôi chút, tôi hay được (hay bị?) phân công khoản trang trí phông màn. Chuyện này nhỏ như con thỏ, mua tí giấy màu, tí màu vẽ, tí giấy trắng về cắt cắt dán dán, thế là xong. Phông màn bắt buộc đủ cả, nào chữ lồng đôi uyên ương, nào chữ song hỷ, nào ngày tháng Tây ta, rồi nếu tiện thì thêm thiên nga, thêm trăng sao, thêm đôi tình nhân lấp ló dưới…rặng cây tre. Bây giờ kể thì thấy dễ, chứ ngày xưa thằng bé cũng phải hì hụi đến 2,3 giờ sáng mới xong. Lúc đó cũng là thời điểm anh em đi mua lợn sống ở ngoại ô về. Anh em hô nhau rộn rạo chọc tiết lợn, đánh tiết canh…để nhậu trước. Rồi những tay đã kinh qua bộ đội nhảy vào trổ tài nấu nướng, món này món kia “như người lớn”.Gần trưa thì cỗ cũng được dọn ra, đủ cả măng mọc, nem rán như ở nhà, những chai “Stolichnaya” tem đỏ đứng xếp hàng tăm tắp trên bàn. Ở góc phòng, những két bia chai Zhigulievskoe hoặc Ostankinskoe đứng sừng sững như sẵn sàng xung trận. Ơ, đã đến giờ rồi sao mà chưa thấy cô dâu chú rể? Thì ra họ đang mải ra Quảng trường Đỏ, ghé Đài liệt sĩ vô danh để đặt hoa và chụp ảnh kỷ niệm. Những năm này, quan hệ phe ta đang đà thắm thiết nên anh em cứ việc nghênh ngáo đó đây, chẳng sợ thằng trọc nào ngứa mắt gây sự nện cho vài chưởng. Đấy, mô hình cưới xin của các “ốp” công nhân ở Moskva là như vậy, chỉ khác nhau đôi chút ở màn cuối, tức là màn say xỉn, nhảy nhót và rủ nhau ngồi “đan quạt”. Có hai gã nọ sau khi đã nhậu sương sương ở đám cưới, bèn rủ nhau chui vào toa-lét, rút nhẫn vàng ra và đố nhau… ném lọt nó ra khỏi lỗ thông hơi trên cửa sổ, rồi có anh nhậu say lại lăn như bi từ đầu này đến đầu kia hành lang dài gần trăm mét…Hai ví dụ này được dẫn ra từ “ốp” Vòng bi trên phố Kazhukhovskaya. Xa xứ, những dịp đông vui tụ tập như thế đâu có nhiều, vậy nên say xỉn và có những hành động kỳ quặc cũng là một điều dễ hiểu và dễ cảm thông.
Nói đến cưới xin mà không nói đến…tiền mừng thì quả là thiếu sót lớn. Ngày xưa, đám cưới cũng giản tiện, tổ chức ngay trong hội trường của “ốp”, nên tiền mừng của mọi người cũng chỉ mức độ, đâu đó vài chục đến đôi trăm rúp là xịn rồi. Ngày nay, đọc phóng sự của bác Nguyễn Huy Hoàng bên Nga thấy nói quân ta bây giờ toàn tổ chức ở nhà hàng, tiền mừng toàn từ vài chục đến trăm đô, nghe mà phát hãi. Cứ nhìn mức tiền cơm bụi giá cao từ xưa đến nay, cũng đã đủ thấy có một sự khác biệt lớn lao đến nhường nào.
Ngày xưa ở Liên xô, đi đâu cũng phải có giấy tờ, visa. Chuyện này tôi đã kể đâu đó trên kia rồi, nhưng giờ nhắc lại để biết rằng ngày đó các đôi yêu nhau khác thành phố phải chịu lận đận ghê lắm. Cả chàng, và cả nàng nữa, nhoách một cái là nhảy lên tàu, trốn visa đến với nửa của mình, cho dù khá là tốn kém và nguy hiểm. Đã thế lại còn lọ mọ khuân khuân vác vác hàng hóa như đồng hồ, quần áo đi “đổ” kiếm vài giá chênh lệch, hoặc là khệ nệ chở hàng hóa mua hộ để đóng hàng về nhà. Có anh bạn của tôi tên là Ch.ở ốp vòng bi ở Thủ đô đi thăm người yêu ở thành phố xa, khi về không biết mua quà gì cho anh em, bèn ra chợ nông trang mua mấy con vịt sống, mang lên tàu (!) sau khi đã đút lót tiền cho đồng chí trực toa. Một khoang ku pê tàu hỏa thường có 4 giuờng nằm, cậu ta nhét luôn mấy con vịt xuống chỗ để hành lý dưới giuờng tầng một, vịt kêu quàng quạc suốt đêm, báo hại mấy bà Tây cùng khoang một phen mất ngủ. Tôi đoán chắc là thể nào mấy bà già đó cũng tra vấn, thậm chí mắng mỏ cậu bạn tôi về vụ này, nhưng Ch.vốn vui tính và không thèm… hiểu tiếng Nga nên cứ nhe răng ra cười là xong. Bữa tiết canh vịt hiếm hoi gần 20 năm trước bây giờ vẫn được chúng tôi nhắc đến mỗi khi đến nhậu tại nhà Ch. Mối tình của Ch. đã đơm hoa kết trái, họ cưới nhau sau khi về nước. Đã có nhiều tình yêu xa xứ dẫn đễn cái soong quấy bột như thế, nhưng cũng có nhiều đôi khi về nước là giải tán quốc hội, mạnh ai đường nấy đi. Có nhiều chuyện cười ra nước mắt về mấy vụ “tan tổ” này lắm, nhưng bây giờ đang tiếp mạch “xây tổ” nên không tán về chuyện này nữa vậy.
(Còn tiếp)