Người lính Nga trong từng giai đoạn lịch sử
Bối cảnh lịch sử
Lịch sử quân đội đương đại của nước Nga được bắt đầu từ thời trị vì của Peter Đại Đế, thời kỳ này ông đã cho thành lập quân đội riêng cho Nga Hoàng. Lực lượng quân đội đó được thành lập bởi những cân nhắc rất kỹ lưỡng của ông với mục đích Tây tiến để mở rộng đường biên giới của nước Nga. Với một thắng lợi vĩ đại đầu tiên trong trận đánh với quân đội Thụy Điện của nhà vua Charles XII tại Poltava năm 1709 Nga hoàng đã như tiếp thêm sức mạnh. Ông cho mở thêm nhiều cuộc chinh chinh khác, một chiến thắng đầu tiên hùng vĩ nhất của lực lượng hải quân Nga cũng là một trận đánh với quân đội Thụy Điển tại bán đảo Hango trên biển Đen vào năm 1714. Với những thắng lợi trước quân đội Thụy Điển, nước Nga đã có thêm được sức mạnh to lớn và có sức ảnh hưởng trên khắp vùng Baltic.

Đội quân chiến thắng của PETER quay trở về Moscow
Ngay trong thời kỳ đầu tiên, dưới sự chỉ đạo của Peter, các lực lượng vũ trang đã được tuyển dụng tân binh từ giai cấp nông dân, cũng dưới thời trị vì của ông, nước Nga là một quốc gia có quân đội hùng mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ và các nguyên lý cơ bản của hệ thống quân đội mà ông đã tiêu chuẩn hóa và huấn luyện trong quân ngũ được giữ nguyên cho mãi đến năm 1917 mới bị hủy bỏ.
Dưới thời trị vì của Catherine II Vĩ đại (1762-96), Đế quốc Nga hoàng lại mở rộng đường biên sang phía tây, phía nam và phía đông của nước Nga, các cuộc chiến tranh đã nổ ra để chống chọi với Đế chế Ottoman (1768-74 và 1787-92) và BaLan (1794-95), người chỉ huy xuất chúng nhất của quân đội Nga trong thời kỳ Catherine II là Aleksandr Suvorov, ông đã chiến đấu rất anh dũng trong cuộc chiến Nga – Thổ thứ hai và trong chiến dịch Balan, ông cũng từng đứng ra chỉ huy đội quân liên minh Nga – Áo để đàn áp cuộc cách mạng Pháp tại bắc Italia vào năm 1799.

Alexander Vasilyevich Suvorov
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ thứ 19, quân đội Nga lại tiếp tục tham gia hàng loạt các trận chiến chống lại đế chế Ottoman. Họ cũng đã phải đối trận với đội quân của Napoleon trên một vài nơi ở khắp châu Âu; Cuộc trạm trán nổi tiếng nhất của quân đội Nga dưới sự chỉ huy của Mikhail Kutuzov vào năm 1812 đã làm cho quân đội xâm lược của Napoleon có một thất bại thật ê chề. Trong thời trị vì của Sa Hoàng Nicholas I (1825- 55), nước Nga được biết đến như là một " hiến binh của châu Âu", một lá chắn bảo vệ của nền quân chủ để chống lại các lực lượng đòi giải phóng. Năm 1831 Nicholas đã dập tắt cuộc nổi loạn của người Balan đã đứng lên chống lại đế chế của ông và năm 1849 nước Nga đã huy động 100.000 quân lính đến đàn áp một cuộc khởi nghĩa của những người ái quốc Hungary đứng lên chống lại đế chế Áo. Cuộc chiến tranh Crime (1853-56), kết quả của những rắc rối trong khối liên minh châu Âu và hàng loạt những nhận định sai lầm về ngoại giao, đã làm cho Anh và Pháp tiến đánh hải cảng Sevastopol của Nga, trong cuộc chiến này quân đội Nga cũng đã tổ chức phòng ngự rất xuất sắc trong gần một năm trước khi bị thất thủ.


Bảo vệ Sevastopol 1854-1855
Vào nửa cuối thế kỷ 19, nước Nga tiến hành hàng loạt các chiến dịch quân sự để chinh phục các vương quốc Khan ở trung Á , mở rộng đế chế và để lấy nguồn cung ứng bông vải cho quốc gia. Với những sự kháng cự tương đối mỏng, toàn bộ các vùng của trung Á đã hoàn toàn sát nhập vào đế chế Nga vào năm 1885. Chiến dịch quân sự của Nga tiếp theo đó là cuộc chiến tranh với Nhật Bản vào năm 1904-05, nhưng bị thất bại nặng nề cả trên đất liền và trên biển, cũng như cuộc chiến Crime, trong cuộc chiến Nga – Nhật đã tỏ ra rằng; guồng máy chiến tranh của Nga đã không tuân thủ theo các tiến triển của chiến tranh thế giới cận đại. Mười năm sau, thế chiến thứ nhất bùng nổ, với sự thực hiện một hệ thống phòng thủ lạc lõng và những trang bị quân trang tồi tàn, quân đội Nga đã phải chịu những tổn thất nặng nề trước Phát xít Đức.
Không thể chấp nhận những thất bại đó, những nỗi bất mãn ngày càng tăng cao ở hậu phương về các thành quả của quân đội Nga trong thế chiến thứ nhất. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nga Hoàng, quân đội trên thực tế cũng đã giành được một số thắng lợi nhỏ trong năm 1916, nhưng đến năm 1917 chiến tranh đã làm dân chúng rất điêu đứng, xã hội thì lụn bại và nó đồng nghĩa với một khởi sự cho nước Nga một cuộc lật đổ ngôi vị Hoàng đế. Một chính phủ lâm thời đã thay thế chế độ quân chủ vào năm 1917 và kiên quyết tiếp tục chiến đấu chống lại quân xâm lăng, các chính sách đó được đưa ra bởi người đại diện của giai cấp Bolshevik, giai cấp mà đã chiến thắng trong cuộc cách mạng Bolshevik, họ đã lật đổ chính phủ lâm thời, một chính phủ chỉ nắm giữ quyền hành được trong vòng có 8 tháng.
Quân đội của Nga Hoàng và lực lượng hải quân bị tan rã ngay sau khi cuộc cách mạng Bolshevik nổ ra năm 1917. Mặc dù những người Bolshevik đã ngay lập tức ký hòa ước với nước Đức, nhưng mau chóng cần phải thành lập một một lực lượng quân sự mới để chống lại một tình trạng mới, đó là những hành động phản cách mạng do những người Bạch vệ đứng lên chủ đạo trong ba năm nội chiến rất đẫm máu. Tháng 4 năm 1918, Hồng quân được thành lập, khi đó chính quyền Xô Viết ra thông báo bắt buộc quân đội phải là lực lượng phục vụ cho dân chúng và các tầng lớp công, nông dân. Tổng chỉ huy quân đội khi đó là Leon Trotsky, một chính ủy đầu tiên trong chiến tranh (1918-24); các sĩ quan nòng cốt đầu tiên của Trotsky được tuyển chọn từ khoảng 50.000 sĩ quan cũ của Nga Hoàng. Trotsky đã cho tuyển dụng từ những người tân binh công, nông dân vào lực lượng xung kích và cuối cùng đã chiếm ưu thế về lực lượng so với chỉ 5 đơn vị độc lập của Bạch vệ, cùng với lợi thế về quyền sử dụng các khu trung tâm công nghiệp của Nga và tập trung các tuyến tiếp tế và các mạng lưới thông tin. Dưới sự chỉ huy của Trotsky, các sĩ quan của chính phủ đã gắn bó được vào tất cả các đơn vị quân đội và đã đảm bảo được lòng trung thành của mỗi người trong số họ - các kỷ luật và đức tính này của các sĩ quan Hồng quân được duy trì liên tục trong suốt thời kỳ Xô Viết.
Khi nội chiến kết thúc vào năm 1921, tướng Mikhail Tukhachevsky đã chỉ huy một chương trình lớn để tổ chức lại quân đội và hiện đại hóa trang thiết bị quân tư trang cho các lực lượng; ông còn cho thành lập thêm nột số trường quân đội. Trong 15 năm đầu tiên của Hồng quân, số lượng các đảng viên đảng Cộng sản tăng lên một cách rất nhanh chóng trong quân ngũ, đặc biệt nhất là các sĩ quan trong các quân đoàn. Giữa những năm 1930, các trường chuyên nghiệp và các học viện đã sản sinh rất nhiều các sĩ quan trẻ tuổi và các sĩ quan được phong cấp với sự thấm nhuần tư tưởng chính trị rất mãnh liệt, do đó đã đảm bảo được lòng trung thành trong toàn bộ các lực lượng vũ trang.
Bắt đầu vào năm 1931, Mikhail Tukhachevsky chuẩn bị cho một cuộc hiện đại hóa vũ khí trên một qui mô rộng lớn cho toàn bộ các binh chủng dựa trên kế hoạch phát triển công nghệ 5 năm của chính phủ, các lực lượng vũ trang và các nguồn tiếp tế trang thiết bị cho họ đã được bổ xung tối đa. Năm 1937, cuộc thanh trừng các phần tử phản cách mạng của Joseph V. Stalin cũng đã không bỏ qua sự thanh lọc đối với lực lượng quân đội. Tukhachevsky, bấy giờ là phó bộ trưởng thứ nhất bộ chiến tranh, cũng bị tử hình với tội phản cách mạng cùng với 7 tướng đứng đầu trong quân đội và cùng với rất nhiếu người trong số 30.000 sĩ quan khác bị giam cầm hoặc tước quân tịch, các sĩ quan không có khả năng chỉ huy cũng bị loại bỏ vào cuối những năm 1930. Một chiến dịch quân sự đầu tiên của Hồng quân được gọi là Cuộc chiến Mùa đông chống lại quân đội Phần Lan (1939-40), trong chiến dịch này ước chừng 100.000 binh sĩ của Hồng quân đã hy sinh trên chiến trận với quân đội Phần Lan.
Người chỉ huy quân đội quan trọng và xuất sắc nhất của nước Nga trong thế chiến thứ hai là nguyên soái Georgiy Zhukov, ông là người đã lập lên các chiến tích lừng lẫy tại bốn vị trí mấu chốt nhất của quân đội Xô Viết: Cuộc bao vây thành phố Leningrad; Trận chiến phòng ngự Moscow, đã ngăn chặn được sự tấn công của quân Đức vào thành phố; Trận chiến Stalingrad (2/1943) và trận chiến Kursk (7/1943) cuộc phản công hung tợn cuối cùng của quân Đức bị thất bại. Zhukov cũng đã chỉ huy cuộc tiến công cuối cùng đánh thẳng vào quân Đức xuyên suốt Belorussia, Ukraine và Balan. Tháng 4/1945, Zhukov chỉ huy Hồng quân trong trận đánh cuối cùng với Đức quốc xã trên thành phố Berlin để đi đến kết thúc cuộc chiến mà người Nga vẫn thường gọi là : Cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại.
Kết thúc thế chiến thứ hai, lực lượng quân đội Xô Viết đã tăng lên đến 11.4 triệu binh sĩ, trong chiến tranh có khoảng 7 triệu binh sĩ đã hy sinh. Ở điểm này, quân đội Xô Viết được xem là một lực lượng hùng hậu nhất thế giới. Năm 1946, Hồng quân được mang tên Quân đội Xô Viết và đến năm 1950 ssó lượng binh sĩ được phục viên vào khoảng 3 triệu người. Từ cuối những năm 1940 cho đến cuối những năm 1960, các lực lượng vũ trang Xô Viết tập trung để thích nghi với sự thay đổi môi trường của cuộc chiến trong thời đại vũ khí hạt nhân và là đối trọng với Mỹ trong cuộc chiến này.
Trong những năm 1970, Liên Xô bắt đầu hiện đại hóa quân đội. Cùng thời gian này, cũng bắt đầu nổi lên các cuộc xung đột sắc tộc và các cuộc chiến địa phương. Liên Xô đã gửi đi hàng loạt vũ khĩ và quân đội đến các nước ở thế giới thứ ba tại châu Phi, châu Á và Trung Đông. Các tướng lĩnh của quân đội Liên Xô cũng đã lập kế hoạch cho các chiến dịch quân sự để chống lại các phần tử nổi loạn ở Angola và Ethiopia. Tháng 12/1979 quân đội Liên Xô được điều động đến Afghanistan để chiến đấu chống lại cuộc chiến tranh du kích do những kẻ nổi loạn ở Afghanistan cầm đầu. Trong cuộc chiến này, ước chừng có khoảng 15.000 binh sĩ Xô Viết bị tử trận và 35.000 binh sĩ bị thương, vào tháng 5/1988 quân đội Xô Viết bắt đầu chuẩn bị rút khỏi Afghanistan. Đầu năm 1989, hầu như toàn bộ 110.000 binh sĩ Xô Viết đang đóng quân tại Afghanistan đã hoàn toàn được đưa về nước.
Sau khi không đạt được kết quả tại chiến dịch Afghanistan, mức độ ảnh hưởng của quân đội Xô Viết tại châu Âu bắt đầu đổ vỡ vào năm 1989. Đến năm 1991 thì hoàn toàn xụp đổ khi hiệp ước Warsaw có hiệu lực cho phép khối liên minh tan rã. Do đó, năm 1994 tất cả binh sĩ Xô Viết/Nga đã rút khỏi các lãnh thổ của Ukraine và Belarus cũng như ở ba quốc gia vùng Baltic do nhưng nơi này đã tách ra độc lập từ năm 1991.
http://www.russiansabroad.com
|