View Single Post
  #4  
Cũ 25-12-2007, 12:03
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Dashevsky Lev, Nhà nghiên cứu thuộc viện Kỹ thuật Điện, tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật. Ông là người khai triển và thực hiện gỡ rối cuối cùng của MESM . Ông cũng là tác giả của cuốn "Chiếc máy tính điện tử cỡ nhỏ" 1952


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Rabinovich Zinoviy – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (các bộ phận bên ngoài)


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Pogrebinsky Solomon - – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (Biến thể cơ bản của thuật toán)


Hai tháng sau khi thuyết minh mô hình, Lebedev đã làm một báo cáo tại một phiên họp khép kín của hội đồng khoa học kỹ thuật năng lượng nhiệt và điện. Biên bản của phiên họp được lưu trữ tại học viện khoa học Ukraina. Xét về tầm quan trọng lịch sử của tài liệu này, xin được giới thiệu dưới đây:


Tối mật.
Biên bản phiên họp khép kín số 1 của hội đồng khoa học thuộc Viện ASU Công nghệ Kỹ thuật Năng lượng Nhiệt và Điện ngày 8/1/1951

Thành phần tham dự:
Các thành viên thuộc hội đồng khoa học: Các thành viên chủ động của ASU I.T. Shvetz, S.A. Lebedev, thông tin viên Teitelbaum, các tiến sĩ khoa học kỹ thuật A.D. Nesterenko, V.I. Tolubinsky, các ứng viên khoa học kỹ thuật, E.V. Kruschova, A.N. Miliakh, A.I. Petrov.

Khách mời tham dự
Chủ tịch cục OTN, quyền thành viên ASU, N.N. Dobrokhotov
Viện toán: Giám đốc viện, quyền thành viên ASU, A.U. Ishlinsky, trưởng ban I.B. Pogrebisky, tiến sĩ khoa học kỹ thuật S.G. Krain.
Viện Công nghệ Mạ điện: đổng sự phòng thí nghiệm biến cải và mô phỏng (Trưởng phòng thí nghiệm S.A. Lebedev), các ứng viên khoa học L.N. Dashevsky và E. A. Shkabara, trợ lý khoa học Z. L. Rabinovich, kỹ sư S. B. Pogrebinsky, đồng sự phòng thí nghiệm tự động hóa, ứng viên khoa học G.K. Nechaev.

Chương trình nghị sự:
Giải tính máy điện tử (Báo cáo của giám đốc viện ASU công nghệ điện tử, quyền thành viên ASU S.A. Lebedev)

Chấp thuận:
Báo cáo của quyền thành viên ASU S.A. Lebedev “Giải tính máy điện tử”

Các nguyên lý thao tác của máy hiệu suất cao có các nguyên tắc số học. Mục tiêu căn bản của máy là làm gia tốc và tự động giải các phép tính. Phòng thí nghiệm đã được giao nhiệm vụ tạo dựng một nguyên mẫu hoạt động của một máy điện toán điện tử có hiệu suất cao. Trong sự phát triển nguyên mẫu, chúng ta có thể chấp nhận một vài hạn chế, tốc độ của máy điện toán có khả năng giải 100 phép tính trên giây, máy có giới hạn 5 bit trong hệ thống thập phân (16 bit trong hệ thống nhị phân)

Máy có thể cộng, trừ, nhân, chia và thực hiện các hoạt động khác như, so sánh, dịch chuyển và dừng lại, nó còn cho phép những khả năng cải biến để làm tăng thêm những chức năng khác

Nguyên tố cơ bản của máy là làm các phép tổng kết. Các Rơle điện tử cũng đã được sử dụng (các ngăn trigơ), trong các ngăn đó dòng điện được chuyển mạch từ một bóng đèn điện tử đến một bóng khác bằng đường dẫn xung lượng trên một khung lưới. Máy tính cũng cho các tổng từ các phép tính khác đã được thiết lập. Để thay thế cho hệ thống thập phân, một hệ thống nhị phân được cài đặt, hệ thống này được xác lập bởi các cấu phần của các ngăn trigơ (S.A. Lebedev đã sử dụng một lưu đồ để sàng lọc các hoạt động của máy tính). Để bổ sung thêm cho các nguyên tố cơ bản của tin học, chiếc máy cần phải có các nguyên tố khác chi phối qui trình tính toán như, cho quyền cài đặt thiết bị và các cơ sở dữ liệu của bộ nhớ.

Năm 1951, phòng thí nghiệm được giao nhiệm vụ chuyển nguyên mẫu thành một chiếc máy hoạt động.Cho đến thời điểm này, sự trở ngại lớn nhất là thiếu các thiết bị tự động nạp và xuất dữ liệu của các kết quả nhận được. Sự tự động của các quá trình này được thực hiện bởi sự trợ giúp của băng từ do viện vật lý khai triển (Trong phòng thí nghiệm của ASU thông tin viên A.A. Kharkevich).

Các câu hỏi được đặt ra:

N.N. Dobrokhotov: Các máy tính khác sẽ được phát triển ở Liên Xô như thế nào và nếu như chúng đã được triển khai thì trên nguyên lý gì?

A.I. Petrov: Lĩnh vực ứng dụng của tính như thế nào?

A.U. Ishlinsky: 1) Thời gian hoạt động của các nguyên lý máy tính như thế nào? 2) Độ tin cậy máy tính như thế nào trong trường hợp phân tử gặp sự cố? 3) Các anh sẽ giải quyết ra sao khi sử dụng các tài liệu kỹ thuật nước ngoài? 4) Cần phải có đủ năng lực như thế nào cho những người sử dụng máy tính?

G.K. Nechaev: Sự tương quan gì giữa thời gian tính toán và thao tác xuất (nhập dữ liệu) trong cơ cấu tự động của máy tính?

I.T. Shvetz: 1) Tình trạng phát triển các máy tính điện tử như thế nào ở các viện khác? 2) Tình hình về vấn đề này như thế nào ở các nước khác và các tham số của họ được so sánh với chúng ta như thế nào? 3) Ai là người đã khai triển ra các ngăn Trigơ, đã được bao lâu rồi và hiện nay chúng đang được sử dụng ở đâu? 4) Viện ASU đang áp dụng thuật toán ra sao, Viện ASU vật lý và Học viện Khoa học Liên Xô đã xây dựng các qui tắc cho độ chính xác cơ học và công nghệ thông tin trong thành phần cấu tạo của tổ hợp này?

L.I. Tsukernik: Những giải pháp gốc đã được viện ASU kết hợp chặt chẽ bằng công nghệ mạ điện trong máy tính như thế nào

S.G. Krain: Những nhiệm vụ gì sẽ được tiến hành triển khai và máy tính có thể hoạt động tự động?


S.A. Lebedev: Tôi đang tiến hành thực hiện các công việc tương tự như các câu hỏi trên. Hiện nay, tôi đang có số liệu của 18 chiếc máy tính do Mỹ chế tạo. Những số liệu này, chỉ mang tính chất quảng cáo, chứ nó không có bất kỳ một dữ liệu thông tin để chế tạo chiếc máy tính như thế nào. Về câu hỏi đến sự xây dựng nền tảng máy điện toán, chúng ta cần phải đuổi kịp những sự phát triển của nước ngoài và chúng ta cần phải tiến hành thực hiện một cách thật nhanh chóng.
Như trong tài liệu của nước ngoài đã có, để thiết kế dự án và dựng lên được một chiếc máy tính thì cần phải mất từ 5 đến 10 để hoàn thành. Những tham số của những chiếc máy tính do Mỹ sản xuất là: Thời gian tính nhân trên ENIAC – 5.5 phần nghìn giây, trên EDVAC – 4 phần nghìn giây, còn của chúng ta là 8 – 9 phần nghìn giây
Cùng sát cánh với Học viện Khoa học Kỹ thuật Công nghệ Mạ điện, chúng tôi đang đồng tiến hành để khai triển máy tính này tại: a) Bộ Xây dựng Máy và Công cụ SKB-245 ; ở đây họ bắt đầu đang phát triển một bộ phận sử dụng các Rơle cơ học, nhưng hiện nay họ đã chuyển sang sử dụng hệ thống điện tử; b) Viện năng lượng ASU, ở đây họ đang tiến hành phát triển các ngăn Trigơ; c) Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính AS-USSR, họ cùng hoạt động chung với các công việc của chúng tôi. Chiếc mày này gần giống như chiếc MESM, nhưng trong dự định, nó có hiệu suất cao hơn cả những chiếc máy do Mỹ chế tạo hiện nay. Thời gian giải toán của chiếc máy tính này sẽ có giá trị bằng 0.2 phần nghìn giây
Đó là là các ứng dụng cho chiếc máy tính của chúng ta. Trên lý thuyết, tất cả các luận đề có thể đơn giản hóa vào một định dạng số và có thể giải bằng chiếc máy này. Nó cũng có thể giải được các phương trình vi phân và tự thành lập các bảng tính. Các tiện ích khác của chiếc máy này là nó có khả năng thực hiện tương tự như giải các phép tính với dữ liệu nhập vào biến đổi (Thí dụ như: tính toán đường bắn của tên lửa điều khiển). Máy tính điện tử cũng cho phép áp dụng các phương pháp toán học mới để giải các bài toán vật lý.
Rút ra kinh nghiệm từ những khó khăn ở nước ngoài đã gặp phải, khâu xuất bản tài liệu rất khan hiếm. Chúng ta cần phải chia nhân viên làm ba phân đoạn để tiến hành làm việc trên máy: Các nhà toán học (Lập trình mã hóa): những người thợ máy (để sử lý các sự cố của máy); và những người có thể làm được cả hai công việc trên
Thời hạn nhập dữ liệu và thời gian xuất kết quả dữ liệu của máy tính ngang bằng với thời gian chu kỳ thao tác. Học viện Khoa học Kỹ thật Toán sẽ tham gia triển khai lập trình các thuật toán và viện Vật lý
ASU sẽ tiến hành khai triển băng ghi từ tính
Để tăng thêm độ tin cậy của máy, chúng ta sẽ thực hiện một thử nghiệm sơ bộ bóng đèn điện tử.
Sự hỏng hóc của bất kỳ yếu tố nào trong máy cúng có thể dễ dàng phát hiện ra.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
cyxovi (28-12-2007)