Trong khi đợi những tin tức khác của đợt thám hiểm này, chèn vào một chút về Mir-1 và Mir-2.
Đây là hai chiếc "Tiềm thuỷ khí" có chức năng nghiên cứu biển sâu được đóng vào 1986-1987. Chúng không phải là những thiết bị lặn sâu nhất để xác lập kỷ lục, mà là thiết bị đa năng để làm việc dưới độ sâu lớn. Về tên gọi, người Nga gọi là "tiềm thuỷ khí" Глубоководные, tiếng Anh là Submersible, dịch ra tiếng Việt là "Tầu ngầm" không đúng lắm. Tiềm thuỷ khí là tên gọi chung của các thiết bị có khoang tạo môi trường cho người làm việc dưới mặt nước.
http://minhmai.quansu.book.googlepages.com/MIR_sub1.pdf
http://www.deepoceanexpeditions.com/ships.html
Mir được thiết kế bởi yêu cầu của Viện nghiên cứu Hải dướng Shirshov, Phần thiết kế chính thực hiện bởi phòng thiết kế tầu German Lioyd Nga hoàn thành năm 1984. Sau đó được đóng ở Phần Lan. Việc thiết kế và đóng tầu có sự tham gia cả các nhà kỹ thuật Canada, Pháp, Phần Lan, Thụy Điển. Lúc đóng xong, đây là thiết bị duy nhất trên Thế giới, sau này có 5 thiết bị làm việc được trên 3 ngàn mét, ba chiếc còn lại của Châu Âu, Nhật và Mỹ, nhưng hai chiếc Mir vẫn là thiết bị có năng lực tốt nhất và được sử dụng nhiều nhất.
+Mir có thể lặn sâu tối đa hơn 6000 mét, nó không đủ để lặn xuống những điểm sâu nhất đại dương, nhưng đủ để nghiên cứu 98% diện tích đáy biển toàn cầu.
+Mỗi chiếc Mir có khả năng cung cấp 246 giờ sinh hoạt cho mỗi đầu người, 1 chỗ lái và 2 hành khách, khi đi 3 người hoạt động tối đa 3,5 ngày. 2 chiếc thay nhau đảm bảo làm việc liên tục không nghỉ. Ngoài thay nhau, 2 chiếc có thể làm việc song song khi cần thiết.
+khoang người có áp suất và nhiệt độ cố định, khí thở được lọc CÒ bằng máy lọc lithium hydroxide, điều này đảm bảo sức khởe cho tổ lái khi làm việc lâu, cũng như cho khả năng thám hiểm các vị trí có nhiệt độ rất khác thường.
+Khoang làm việc của Mir đường kính 2,1 mét. Cửa ra vào trên nóc tầu lớn, rất thoải mái để lắp đặt các thiết bị.
+Khoang nước cân bằng có khối lượng chứa 1500kg, khối lượng dùng điều chỉnh cân bằng 1000kg, rất thoải mái để mang vác.
+Năng lượng rất thoải mái cho các thiết bị.
Bình điện chính Nickel cadmium – 100 kWh.
Nguồn điện 2 chiều chính DC / AC inverter N1 – 12 kWh.
Nguồn điện 2 chiều phụ DC / AC inverter N2 – 05 kWh.
+Cửa sổ chính đường kính 200mm, hai cửa sổ bên đường kính 120mm.
+Mir có 4 cánh quạt, cánh quạt chính đẩy tầu tốc độ 5 hải lý / giờ. Hai cánh quạt hai bên quay được ngược nhau, gập ngoáy, để tầu đứng yên vẫn xoay vòng được.
+Hai cánh tay đa năng. Cánh tay đa năng có các hoạt động kéo, gập, xoay, kìm kẹp (gần như tay người), có 7 động tác cơ sở lập trình sẵn và được điều khiển mô phỏng bởi nhân viên trong khoang như các cánh tay máy truyền thống.
+Khoang máy ảnh lớn cho phép đặt các máy ảnh dùng phim phân giải rất cao. Thêm nữa, đèn chiếu rất mạnh và có chế độ liên lạc để một tầu chớp flash và chiếu sáng, một tầu chụp ảnh. Ngoài ra có máy truyền hình NTSC.
+ Các đèn pha và camera truyền hình mạnh đặt trên các khớp 2 bậc tự do cho phép chiếu sáng độc lập, phục vụ các hoạt động riêng của người lái và hành khách đi theo nghiên cứu.
+Sonar (thiếu bị dựng hình siêu âm) 250 mét. Khi chỉ dùng chức năng đo xa là 1000 mét, thiết bị định vị bằng âm thanh với tầu mẹ. Trên Mir có hệ định vị quán tính, con quay hổi chuyển.
+Liên lạc bằng sóng siêu âm và cáp băng thống lớn với tầu mẹ. Truyền hình trực tiếp với tầu mẹ, dùng sóng VHF khi trên mặt nước, có định vị toàn cầu.
+Mir có 12 sensor ngoài, có các chai đựng lấy mẫu nước và súng khí nén + khoan lấy mấu đất đá.
Dài – 7,8 m / 25,6 ft.
rộng – 3,6 m / 11,8 ft.
Cao – 3,0 m / 9,8 ft.
Nặng – 18600 kg.
+Kíp phục vụ rất ít, 25 người.
Một tính năng độc đáo là Mir đã tính toán sẵn việc thay đổi cấu trúc và thiết bị ở vùng "mồm" công tác, kết hợp với khoang trong lớn và tài nguyên nhiều, Mir rất dễ thực hiện các nhiệm vụ phức tạp và khác lạ. Ví dụ, trong chiến tháp hiểm này, Mir trang bị một mũi bảo vệ trông rất lạ lẫm, cũng như các thiết bị ghi hình mới.
Tầu mẹ là Akademik (Viện Sỹ) Mstislav Keldysh 1600 tấn. Trong Baikal thì tầu mẹ không đến được nên người ta đóng một chiếc sà lan thay thế. Sà lan thay thế này chở được bằng xe tải và tầu hỏa.
Mir và tầu mẹ Akademik (Viện Sỹ) Mstislav Keldysh đã nghiên cứu rất nhiều nhiệm vụ ở khắp nơi trên các biển và hồ. Cho đến năm 2000, Mỹ có chiếc Alvin . Nhật có Shinkai và Pháp có Nautile. Đây là 3 chiếc duy nhất ngoài Mir có khả năng làm việc dưới 3 ngàn mét. Nhưng không một chiếc nào trong chúng có khả năng làm việc độc lập cũng như cặp đôi sánh với Mir cả.
Ngoài tính đa năng không một chiếc tiềm thủy khí sâu nào sánh được, Mir cũng nổi trội vì giá hoạt động và độ tin cậy, cũng như lịch sử làm việc vô địch. Một số chuyến công tác nổi tiếng của Mir là gần đây thám hiểm Bắc Cực, hay cách ly các ngư lôi hạt nhân trên con tầu ngầm đắm Komsomolets , thám hiểm Thiết Giáp Hạm lừng danh Bismarck Đức chìm trong WW2. Mir cũng đã khảo sát chi tiết 12 điểm núi lửa đang hoạt động trong lòng đại dương. Suốt 20 năm qua, Mir đã phát hiện ra rất nhiều loài sinh vật mới, trong đó có các dòng sinh vật hết sức lạ lẫm như các sính vật sống ở môi trường đến 200 độ C, hoặc các sinh vật sống bằng dầu mỏ-trở thành một cách tìm kiếm mỏ dầu đắt giá.
Mir cũng là thiết bị dùng để quay phim tầu khách nổi tiếng Titanic, các đoạn phim này được dùng trong tác phẩm địa ảnh cùng tên lừng danh của Kate body ngon.
Trong chiến thám hiểm này, Mir mang theo một robot lặn điều khiển bằng dây dẫn của nước ngoài, để từ Mir, các nhà thám hiểm quay phim bên trong Titanic. Mir cũng đem về nhiều vật kỷ niệm từ trong lòng tầu-việc ngoài nó ra không thiết bị nào làm được cho đến nay.
http://www.robgoldsmith.co.uk/titanic_gallery_full.html
Mir trong nhiệm vụ Titanic.
Kate béo ngon sẽ bay bay trong "tác phẩm" này của Mir.