View Single Post
  #40  
Cũ 24-07-2009, 00:00
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 166, tháng 3 năm 1985

“Cùng với các cộng sự của Hội đồng An ninh quốc gia là Vinesent Kannistraro, Donald Farte và ... biên soạn ra tài liệu làm thay đổi về mặt nguyên tắc những mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến tranh này (ở Afghanistan). Chỉ lệnh “NSDD-166” được Tổng thống Reagan ký vào tháng 3 năm 1985 lần đầu tiên đã định ra những mục tiêu chính cho cuộc chiến tranh ở Afghanistan trong bối cảnh chiến lược chung”. (...)

Chỉ lệnh mới chứa đựng một số thời điểm then chốt.

Một là, cần phân bổ và cung cấp vũ khí có chất lượng tốt hơn cho Lực lượng Mudzahad. Tăng cường những loại vũ khí mới về công nghệ.

Hai là, tình báo Mỹ đã nhận được nhiệm vụ thu thập nhiều hơn thông tin về các dự định quân sự của Liên Xô. Đặc biệt chú ý vào các mệnh lệnh quân sự, chiến thuật và cơ cấu quân đội của Liên Xô. Các kế hoạch quân sự và chính trị của ban lãnh đạo cao cấp Xô Viết phải được phân tích và kiểm tra.

Ba là, đề cao mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh trên trường quốc tế. Với sự hỗ trợ của những tổ chức như Liên Hợp Quốc, Mỹ sẽ tăng cường sức ép tối đa để bóp ghẹt Xô Viết. Cũng để cho họ hiểu rằng việc cải thiện quan hệ với Mỹ có liên quan trực tiếp với việc Liên Xô chiếm đóng Afghanistan.

Nhưng mục tiêu thực chất của “NSDD-166” là giành chiến thắng, đánh bại hoàn toàn Lực lượng Vũ trang Liên Xô tại Afghanistan (Xem Phụ lục).

Trước khi nói đến các phương thức được bộ phận chính trị đối ngoại của nghị viện Mỹ sử dụng trong quan hệ đối với Liên Xô vào nửa sau những năm 1980, cần chú ý tới việc chính những quan điểm của chúng ta trong lĩnh vực tư duy và giáo dục thực sự có những khác biệt. Ở Liên Xô, trong quá khứ cũng như hiện nay, trường phái chính trị học thiên về hướng phát hiện sự kiện, mối quan hệ nhân - quả, mặt tích cực và tiêu cực và tính chất kết cấu của chúng. Điều này liên quan đến toàn bộ lĩnh vực giáo dục nhân văn. Ở Anh và Mỹ có phong cách tư duy khác. Họ mạnh hơn trong phân tích và đặc biệt toàn diện. Họ mạnh hơn trong tổng hợp. Thêm vào đó, nếu ở Nga tư duy được thiết lập trong khuôn khổ của toàn bộ hệ thống, thì ở Mỹ họ sẽ xem xét từng hiện tượng, trường hợp riêng lẻ một cách cụ thể hơn. Vì vậy, ví dụ, khi trên báo chí Xô Viết đề cập tới việc lớp người mới lớn và học sinh phổ thông không hề biết tới những sự kiện đơn giản nhất trong Chiến tranh thế giới II (Khi nào? ở đâu? Ai chống ai?...) thì điều đó không có gì là đáng ngạc nhiên: những người này lại biết những thứ khác mà không cần hiểu vẻ bề ngoài, họ có thể nêu ra kết luận ngược với trình tự các sự kiện. Đến khi đó chính anh buộc phải ngạc nhiên: dưới góc độ như vậy thì một hiện tượng đã biết rõ không cần phải xem xét.

Bây giờ chúng ta chuyển đề tài. Trong khái niệm chung, công nghệ tri thức (Intellectyal Technology -IT) là một tổ hợp các phương thức để thu thập, kiểm chứng, gia công, thay đổi trạng thái, tạo ra khả năng sẵn sàng ứng dụng sản phẩm thông tin. IT được phân biệt theo những phương tiện mà người nghiên cứu dự tính sử dụng. IT thường mang tính chất khoa học và phương pháp luận. IT trước hết là công tác nhằm tập hợp thông tin. Sau đó là kiểm chứng các tin tức đã nhận được, thường là so sánh với thông tin đã có (bằng phương pháp khái quát hoặc nghiên cứu thử nghiệm). Tiếp đến là thiết lập nên mô hình của những hệ thống cùng hướng và chính sự thiết lập có hiệu quả sẽ minh chứng cho tính chất đúng đắn của các quan điểm trước có đó.

Giai đoạn tiếp theo là phân tích thông tin nhận được. Phân định ra những kết quả cuối cùng và bổ sung phần còn thiếu của thông tin. Sau đó, thông qua những kết quả đã có từ trước, tiến hành thu thập và hợp nhất lần cuối toàn bộ hệ thống thông tin đã có, nghiên cứu môi trường xung quanh. Đây còn gọi là giai đoạn tổng hợp. Trước trường hợp, nếu mọi cách tiến hành trước đó đã được thực hiện đúng, tin cậy thì sẽ xuất hiện khả năng đưa ra dự báo cho tương lai tới. Trong giai đoạn này, mọi thông tin thừa đều bị loại bỏ. Chỉ để lại những thông tin thỏa mãn được cả ba yêu cầu: “Tính hạn chế - Tính chính xác - Tính cục bộ”.

Thông thường, từ toàn bộ khối lượng thông tin thu nhận và được gia công rút ra thông tin trung hoà về ý nghĩa - thông tin theo yêu cầu. Chính thông tin này được xử lý thích hợp, nghĩa là được phân theo các chủ đề theo tâm lý tiếp nhận của con người, được khẳng định và được trình bày với tư liệu rõ ràng dành cho nhu cầu sử dụng của sau này. Bên cạnh đó, nó tương đối linh hoạt khi cần sử dụng. Đó là một bức tranh khái quát và mỗi IT đều có những sai lệch nhất định so với bức tranh đó.
Trả lời kèm theo trích dẫn