B52 là dạng mục tiêu, SAM là đạn, vậy nên tỷ lệ trúng cỡ 0,1% (phần ngàn) đến 1% là đạt. Còn nếu trên dưới mức đó thì đi kiện đạn và mục tiêu. Đây là nói đạn "cộng nghệ cao", chứ đạn pháo phòng không thì tỷ lệ giết địch cỡ phần vạn là quá ngon rồi.
Mỗi quả bom B52 rơi cách nhau vài trăm mét, có bán kính công phá đủ để làm bẹp hầm là 10 mét. Giữa 10 mét và mấy trăm mét ấy chỉ giết dân. Còn như đánh ga Hà Nội mà vào Khâm Thiên thì cách cả km. Đấy là chưa kể xe bọc thép, bom 250kg nổ cách 10 mét T54 thì chắc chỉ làm choáng tổ lái, nghỉ lúc lại đánh nhau tiếp.
Rải thảm là một dạng chiến tranh vô dụng nhất về quân sự, nhưng đạt hiệu quả cao nhất để bán máy bay và bom, và cực cao để giết dân. Nga có TU-16 trước thời B52, nhưng cả TU-95 sau này cũng lấy việc dùng vũ khí chính xác làm chiến lược phát triển. TU-95 bi h không còn đời nào ném bom rải thảm. Vì thế, nên mang tiếng TU-95 cùng thế hệ với B52, nhưng nó bị kiện vì quá đáng sợ. Cùng thế hệ đây là thế hệ thân cánh máy bay, nhưng TU mang đạn tự hành bắn chính xác chứ không còn đời rải thảm. Ngay cả đời "mang bom rơi tự do", thì chiến thuật của nó cũng không phải rải thảm, mà làm ném chùm.
Thật ra, trong số các loại máy bay tham chiến trực tiếp, thì máy bay ném bom rải thảm là loại có giá thành thấp nhất, yêu cầu kỹ thuật thấp nhất. (Tuy nhiên, bên Mỹ người ta lại bán với giá cao ngất ngưởng). Nó không khác gì so với một máy bay vận tải thông dụng. Thậm chí, máy bay vận tải còn lo cái khoang rộng, còn mật độ khối lượng/thể tích của máy bay ném bom rải thảm rất cao, thuận lợi hơn nhiều.
Điều này giải thích tại sao ở Mỹ người ta sản xuất nhiều máy bay này đến vậy, các nhà thầu không cần đá đấu nhau về kỹ thuật, nhưng khi thắng thầu, thì khối lượng hợp đồng rất lớn. Chính vì vậy, các thế lực kỹ thuật kém mới có đất sống.
Trong chiến đấu, loại máy bay này dễ bị tổn thương nhất, không những thế, số lượng của chúng lớn và giá thành lại cao, nên để lại hậu quả lớn trong tổ chức lực lượng. Đây là bài toán lỗ chổng vó nếu như quân đội quản lý tốt các thu chi của mình. B-25 và B-29 là một ví dụ, B-25 được sản xuất rất nhiều, nhưng khi sử dụng thật lại vô dụng vì không dùng được trên tầu sân bay. Mỹ tháo bỏ các phương tiện, cho cất cánh trên tầu sân bay nhưng không hạ cánh được. Trận đánh vào Tokyo báo thù cho Trân Châu cảng như vậy, các máy bay hạ cánh xuống Tầu bị Nhật phá huỷ gần hết. B-29 ra đời thay thế, nhưng chưa được 10 tuổi đã bị MiG-15 cho về hưu ở Triều Tiên. B-52 có thành tích buộc Mỹ đình chiến ở VN. Toàn những thành tích chiến đấu lg.
Công dụng duy nhất của nó là tàn phá dân sự, điều này vô dụng và là một tội ác khi chiến cuộc đã rõ ràng, địch không còn khả năng chống trả thì máy bay ném bom rải thảm mới tác chiến được. Chính vì thế, không nước nào sản xuất loại này trừ Mỹ, mặc dù trình độ sản xuát máy bay cả dân sự lẫn quân sự cao hơn Mỹ.
Loại máy bay ném bom rải thảm đầu tiên của Liên Xô là TU-4, copy B-29. Ngay từ lúc bắt đầu thiết kế, nó đã bị phản đối mạnh mẽ từ các nhà kỹ thuật, vì đầu tư vào loại máy bay thiếu hàm lượng kỹ thuật này là một sai lầm. Sau khi có các mẫu thử, thì các nhà quân sự cũng tán đồng các nhà kỹ thuật, do đó, máy bay này được sản xuất rất ít, chỉ thỏa mãn một số hy vọng khác về khả năng khác của nó, như vận tải, nhảy dù... và nhất là mang đạn tự hành tấn công chính xác. Tuy nhiên, đạn tự hành chỉ được dùng ở các máy bay sau này. TU-95 có đời đầu mang bom rơi tự do do chương trình đạn tự hành có cánh-vũ khí dự định của nó, phát triển chậm.
TU-16 được thiết kế để "tấn công chính xác từ xa", có nhiệm vụ đánh tầu biển. Ném bom rải thảm hoàn toàn vô dụng với tầu biển, nên trong thế chiến, để đánh pháo hạm Yamato, phải huy động nhiều tầu sân bay, mỗi tầu có hàng trăm máy bay, trong đó, tổng cộng có hàng mấy trăm máy bay trực tiếp mang bom và ngư lôi. Tuy huy động lực lượng khổng lồ áp đảo như vậy, nhưng thương vong cũng không nhỏ. Nguyên nhân: các máy bay lớn mang nhiều bom của Mỹ không đánh chính xác được vào vật thể như tầu biển, phải dùng các máy bay ném bom bổ nhào nhỏ. Lúc TU-16 được phát triển, có hai phương án sử dụng nó được đề xuất song song. Thượng sách là phát triển được đạn tự hành có cánh chống tầu. Hạ sách là "bổ nhào từ xa", tức bổ nhào nhưng ở độ cao và khoảng cách lớn, ném bom chùm, không phải đến vài trăm mét mới cắt bom như máy bay ném bom bổ nhào truyền thống. Điều này tuy không đánh được cầu và xe tăng, nhưng có hiệu quả khá với vật thể to như tầu sân bay, chiều ngang 70 mét, dài 300 mét. May mắn cho TU-16 là thượng sách thành công, phần lớn các TU-16 của Liên Xô và các nước khác sản xuất đều theo concept này, ngày nay vẫn là vũ khí chống tầu biển chủ lực của Trung Quốc. Tầm bắn tối đa chống tàu bn đầu là 80km, quá thừa để Liên Xô tiêu diệt bất cứ hạm đội nào lúc đó. Tuy nhiên, các phiên bản đạn chống tàu dễ thực hiện hơn, điều khiển qua radar, đo xa, định hướng và đo cao dễ hơn bởi mặt nước phẳng, còn đạn đối đất chính xác của TU-95 ra đời chậm hơn.
TU-16 là máy bay đầu tiên đánh bề mặt chuyên bằng vũ khí điện tử, khởi đầu cho thời đại điện tử về mặt này. Trước đó, Đức chưa có phiên bản chuyên nghiệp, khí tài cũng chỉ ở mức thử nghiệm. Đạn của TU-16 ban đầu là hai hoặc 3 MiG-15 không người lái treo dưới thân cánh.
Chính vì các phát triển của Mỹ trong lĩnh vực đạn tự hành rất chậm, nên họ mới theo đuổi rải thảm rất lâu sau TU-16.
Các đời TU-95 mang đạn tự hành có điều khiển xuất hiện từ những năm 196x, đến khoảng đầu 197x thì các phiên bản TU-95 ném bom rơi tự do được hoán cải hết và từ đó mất giống. TU-16 thì ngay từ 195x đã dùng đạn tự hành, đây là loại đạn tự hành chống tầu được sản xuất lớn và hoạt động hiệu quả đầu tiên trên thế giới. Trước đó, Đức có sản xuất nhưng ở mức độ thử nghiệm, số lượng rất ít. Đức cũng bắn được một số tầu chiến lớn của đồng minh, trong đó có hai chiến hạm lớn, là soái hạm của Ý (đã đầu hàng). Mỹ nhái lại Đức BAT, sử dụng rất nhiều trong WW2 và chiến tranh Triều Tiên, nhưng không trúng phát nào. Người Mỹ tổ chức những chiến dịch to lớn phá huỷ các cây cầu trên sông Yalu, đều thất bại, kể cả huy động bom rơi tự do, rải thảm và bổ nhào, cũng như đạn tự hành có điều khiển BAT. Cuối cùng, người Mỹ rất hèn, họ tổ chức một trận ném bom có đông đảo máy bay tham gia, chụp ảnh quay phim từ mọi góc độ, dùng tuyên truyền cho đến ngày hôm nay, nhưng đó là cây cầu Dandong đã bỏ hoang từ năm 1937 do lũ làm lún. Trình độ đánh cầu (hay các mục tiêu mặt đất cần ném bom chính xác khác) của Mỹ cực kỳ tệ. Ví dụ, các cây cầu Bắc Giang, Đáp Cầu, Long Biên, Hàm Rồng trên tuyến huyết mạch, bị đánh hàng ngàn lần, nhưng đều đứng vững. Long Biên và Hàm Rổng chỉ sập đầu 197x vì bom laser. B52 cho đến chiến tranh Iraq 2003 vẫn ném bom rải thảm.
Tất nhiên, tất cả các banj đều chưa một lần được tổ chức một trận ném bom. Nhưng các bạn dễ dàng tính toán hiệu quả của việc ném bom rải thảm. Ví dụ, nếu coi chiếc xe tăng là hình tròn bán kính 3 mét, các xe tăng cách nhau 100 mét, thì diện tích xe tăng chiếm 1 phần ngàn diện tích mặt đất. Mỗi quả bom phải rơi trúng vào vòng tròn xe tăng, mà mỗi quả bom cách nhau 200 mét, tức một phần bốn ngàn diện tích mặt đất dính sức công phá đủ sát thương xe tăng, tức chỉ một phần 4 triệu số xe tăng bị sát thương. Chính vì thế mà các câu cầu Dandong. Hàm Rồng mới không sập. Cầu dài hàng km, rộng hàng chục met, và yếu ớt mỏng mảnh hơn xe tăng nhiều.
Tỷ lệ sát thương của rải thảm với hầm kiên cố như trên là 1 phần 4 ngàn, coi như toàn bộ diện tích mặt đất đều là hầm đi, quá thiếu. Thực tế, hầm bán kiên cố trong các trận B52 là dưới 1 phần ngàn.
Chính vì thế, không nước nào dùng ném bom rải thảm trừ Mỹ hay các trận đánh do Mỹ đài thọ. Các loại máy bay chủ yếu của Liên Xô và Đức, kể cả Liên Xô và Nga cho đến nay, đều là tấn công chính xác. WW2 là ném bom bổ nhào (cường kích), và sau đó là mang đạn tự hành có điều khiển, như TU-16. Châu Âu chưa bao giờ sản xuất máy bay ném bom rải thảm.
Có các trận ném bom rải thảm lớn đều do Mỹ thực hiện, gồm, Đức 1945, Nhật 1945, Triều Tiên 1953, Quảng Trị mùa hè 1972 và 12 ngày đêm. Các trận ném bom Đức và Nhật đều nhằm vào dân thường với các công trình dân sự. Những tội ác chống lại loài người này vẫn đậm dấu ở Dresden, Tokyo. Ở cả hai trận đánh, cả hai nước Đức và Nhật đều đã kiệt quệ. Ở Triều tiên, Mỹ phá hủy Bình Nhưỡng và các đập nước-điểm sống còn của nông nghiệp xứ này. Ở cả ba trận trên, mục đích đều là khủng bố tinh thần dân chúng trước khi kết thúc chiến tranh. Dã man nhất ở ở Tokyo, Mỹ dùng bom cháy, đốt cháy diện rộng thành phố làm bằng gỗ.
Quảng Trị mùa hè 1972 là trận ném bom lớn nhất lịch sử chiến tranh, 400 ngàn tấn bom. Tuy nhiên, xe tăng quân ta, như mình đã tính, thiệt hại không đáng kể, nếu theo phép tính trên, thì có lẽ chỉ nửa cái xe tăng trúng bom. Tuy nhiên, bom làm xe tăng suy yếu vì thiếu hậu cần. Mặt khác, quân ta nhìn xa, không lộ chiêu chờ 12 ngày đêm, nên B52 mới tác quái được. Tuy ta thả lỏng, không hề có thiết bị chống B52, nhưng kết quả trận đánh vẫn nghiêng về bên ta. Chúng ta công phá, đánh chiếm hoàn toàn "Hàng rào điện tử McNamara", chiếm từ cảng Cửa Việt cho đến Thái Lan. Đây là điểm quyết định, đảm bảo Mỹ thua ta thắng.
12 ngày đêm thì kết quả ai cũng biết rồi. Bộ chỉ huy vùng Mỹ điều phối trận đánh 3 ngày, Bộ chỉ huy chiến lược cáu tiết, chửi bọn vùng không biết đánh, lại cầm quân 3 ngày. 6 ngày sau địch đánh cầm chừng, chờ quyết định TT Mỹ. Đây là quyết định hết sức quan trọng, không phải là dừng một chiến dịch, mà là kết thúc chiến tranh.
"Hiệu quả tâm lý cực kỳ to lớn" ?? Hiệu quả tâm lý của 12 ngày đêm là gì, là Mỹ ký hiệp định đình chiến, thương vong quá lớn, trong khi kết quả trận đánh được hy vọng quá nhiều, làm tâm lý lãnh đạo Mỹ suy sụp. Của chiến tranh TT là gì, là đình chiến, Mỹ chấp nhận kết quả chiến tranh, còn 60 năm qua TT phát triển hạt nhân đòi báo thù. Với châu Âu và Nhật: không bao giờ họ thiết kế và chế tạo máy bay ném bom rải thảm cả, mặc dù trình độ sản xuất máy bay chiến đấu cao hơn Mỹ rất nhiều, châu Âu có Airbus to nhất thế giới, Boeing trước nó như chuột so với mèo, nhưng không có chiếc nào ném bom rải thảm hết. Nga có AN-224 to nhất thế giới, những cũng không có rải thảm, một cái AN-224 mang bom nhiều bằng 8-9 lần loại B-52 to nhất. "Hiệu quả tâm lý cực kỳ to lớn" duy nhất đạt được là đội quân liệt não khổng lồ, sản phẩm của nền giáo dục Mỹ ngu dân, với đặc sản là mỗi năm vài chục vụ xả súng kinh hoàng trong trường học.
Vâng, trừ "Hiệu quả tâm lý cực kỳ to lớn" với đoàn quân liệt não, thì Mỹ chỉ chứng minh họ cực kỳ ngu ngốc và tàn độc mà thôi. Chính vì không chế tạo B52 mà châu Âu và Nhật lật ngược kết quả WW2 trước Mỹ. Đức phát động hai cuộc chiến tranh để thống nhất châu Âu đều thất bại, Nhật tham gia hai cuộc chiến để giành thị trường và các mỏ nguyên liệu, WW2 cũng bại. Châu Âu nay đã thống nhất, hàng hóa Nhật đi khắp thế giới, người Nhật buôn bán và đầu tư khai thác các mỏ lớn nhất thế giới, mà họ không phải thực hiện cuộc chiến tranh thế giới nào nữa.
Về hoán cải SAM-2 V75. Quân ta không hề hoán cải phần động cơ. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh điện tử đầu tiên trong lịch sử. Bản chất của chiến tranh điện tử là hai bên thay đổi chiến thuật, vũ khí liên tục để khắc chế nhau, nên chiến tranh điện tử không hề giống như trong chò trơi điện tử. Mà sự thật, các kỹ thuật viên, các nhà bác học luôn luôn chiến đấu với nhau, lừa nhau về tính năng thiết bị và hoán cải chúng liên tục, do đó, việc các nhà kỹ thuật đổ máu trên chiến trường là điều khó tránh khỏi.
Cả SAM-2 và SAM-7 (vác vai), đều cải tiến dẫn đường, dò mục tiêu... ngay trong chiến tranh, bằng cách theo dõi chặt chẽ diễn biến các trận đánh, những hoán cải của địch. Đợt đầu SAM mới xuất hiện, tỷ lệ thắng lớn (phải nói là cực lớn so với các vũ khí trước đó), đặt Mỹ đứng trước nguy cơ bó tay. Thật ấu trĩ, trẻ con, ngu ngốc khi nghĩ rằng người Mỹ dốt nát về điện tử, giống như một số tuyên truyền. Người Mỹ ngày đêm huy động những nhà bác học lớn nhất của họ cải tiến máy bay để chống SAM-2. Cải tiến đầu tiên của họ là gây nhiễu cho đầu dò radio của ngòi nổ SAM-2. Liên Xô cũng thu được qua tình báo một số đầu dò tên lửa SAM của Mỹ, từ chính bên trong nước Mỹ. Thật may mắn, ngay trong năm 1967, chúng ta đã cải tiến được đầu dò để chiến đấu hiệu quả cao tiếp.
Lúc đó có một chuyện thú vị. Theo quy định, chuyên ra Liên Xô phải mang đạn về nước mới được mở đạn ra, vì bí mật quân sự, lúc đó bên ta có nhiều người Tầu, đối địch Liên Xô. Đích thân Đại Sứ Liên Xô đã ra lệnh và chịu trách nhiệm về việc chuyên gia mở đầu đạn ngay trên đất Việt Nam để chỉnh đầu dò radio.
Sau này, còn rất nhiều đợt hoán cải, chủ yếu là thay đổi liên tục tần số radar, lừa nhau từng miếng với máy gây nhiễu địch. Có nhiều hy sinh rất âm thầm nhưng lớn lao. Ví dụ, các bảng mạch mới lắp ráp còn thiếu cả phần chống phát xạ, nên một số sỹ quan đã nằm trong vùng phủ sóng quá mạnh, về sau này mắc nhiều chứng bệnh hiểm nghèo, như ung thư máu và vô sinh.
Trong 12 ngày đêm, chỉ sau đợt ném bom đầu tiên chúng ta mới phát hiện ra lỗ hổng trong máy gây nhiễu địch, bố trí lại trận địa, địch đánh tiếp đợt nữa trong khi đạn đang hành quân, nên không bị chống trả. Báo chí phương Tây, kể cả một số bạn bè Đông Âu ồn ào lên, kể cả có tin cụ Giáp đã trúng bom mất. Chúng ta phát hiện ra B52 khi đổi hướng nghiêng cánh, thì máy gây nhiễu tích cực của nó ngừng hoạt động một thời gian ngắn, nên bố trí các trận địa để bắn trong thời điểm đó. Kết quả, sau 6 ngày chiến tranh, địch chịu thua, 6 ngày sau thật ra địch đánh cầm chừng chờ Tổng Thống ra quyết định rất khó khăn, là kết thúc chiến tranh Việt Nam trên tất cả các chiến trường. Tỷ lệ trúng lúc đó gấp nhiều lần con số 1%, quá đủ để Không Lực Hoa Kỳ bại trận. Riêng các trận địa đón được B52 đổi hướng thì tỷ lệ trúng lên đến hàng chục phần trăm.
Hiệu suất chiến đấu của chúng ta rất cao. Trong 10 năm chiến tranh Biên Giới, Tầu chỉ bắn được một MiG, nhưng phi công vẫn nhảy dù được. Thật ra, quân ta chủ quan, chiếc MiG này nhiều lần bay đúng theo một tuyến đường, đúng giờ. Mà cần điều tra tiếp, chắc chắn biếu tiền địch như vậy là do gián điệp Tầu nhan nhản khắp các cơ quan của ta. Tuy vậy, Tầu vẫn phải bố trí rất nhiều trận địa, bắn cùng lúc 9 quả, mới làm bị thương được MiG này.
Tỷ lệ trúng của đạn điều khiển bằng radar Mỹ trong chiến tranh rất thấp. Tỷ lệ này chỉ đáng kể trong năm 1966-1967, khi quân Mỹ phục kích xung quanh các căn cứ MiG, tổng thời gian này một vài chiếc MiG bị hạ khi vừa cất cánh, chưa đủ tốc độ chiến đấu. Một trong những trận này, có huấn luyện viên Liên Xô tham chiến. Mỹ bắn hạ 1 trong tốp 2 MiG cất cánh huấn luyện, lúc đó tốc độ còn thấp. Nhưng MiG còn lại bình tĩnh tăng tốc, vòng lại quần đảo, hạ một F và các F khác rút chạy. Đến chiến tranh Iraq 1991-2003, không một đạn điều khiển radar nào của Mỹ bắn trúng, tất cả các chiến công đều do đạn hồng ngoại.
SAM-7 cũng được hiệu chỉnh đầu dò hồng ngoại ngay trên chiến trường. Đây chỉ là giải pháp tạm thời, trên các cơ sở thu được, Liên Xô đã chế ra thế hệ đầu dò làm lạnh, cho đến nay vẫn là nguyên tắc của các đàu hồng ngoại. SAM-7 ghi dấu chiếc máy bay cuối cùng bị bắn hạ trong chiến tranh, nó ngắc ngoải cố gắng ngóc đầu lên vài lần trước khi rơi, trước mặt các phóng viên cả hai bên, vì vậy cảnh này được truyền ngay lập tức khắp thế giới như là một biểu tượng của quân ngụy hấp hối.
Lúc đó, ở ta, không ít thì nhiều có kiểu cách mạng văn hóa Tầu. Thực chất, CMVH là nông dân Chí phèo ngăn cản bước tiến bộ của giới trí thức. Điều ngu si vẫn được tuyên truyền cho đến nay là SAM chiến thắng bằng tinh thần. Thật ra, lúc đó, bọn ngu si này có khá nhiều trong giới lãnh đạo, chúng đặc biệt ghét sỹ quan tên lửa. Nhiều sỹ quan lập công ty nhưng chúng vin cớ này cớ nọ, không cho nhận huân huy chương, lên chức. Bọn này cho đến nay vẫn nhan nhản, đặc tính chung của chúng là ghét đặc biệt trí thức và xôi thịt bè phái, lũ Chí phèo hiện đại này tập hợp với nhau thành băng đảng và có tỷ lệ không nhỏ.
Trích:
tuong123 viết
Theo cháu được biết thì B 52 đạt hiệu suất sát thương cao nhất là ở chỗ nó thực hiện rải thảm (Theo kết cấu thì nó hoàn toàn có thể mang được một lượng bom lớn). Mà đã là rải thảm thì cần gì chính xác, chỉ gần giữ cho nó không sai lệch khỏi vùng được cho là mục tiêu là được rồi .Nó chỉ cần bay thật cao rồi ném bom kiểu tọa độ theo thiết bị trên máy bay. Với một lượng lớn bom được rải thảm như vậy thì ngoài tính sát thương cao,xác suất trúng mục tiêu lớn mà còn tạo hiệu quả tâm lý cực kỳ to lớn
|