Xin đủ cái wiki đi, đấy là cái công cụ làm liệt não.
Lê Nin chết vì bệnh giang mai ?? Lênin chỉ trích Stalin ?? và các thứ đó căn cứ vào tài liệu ở Mỹ xuất bản cùng thời. Vậy các hồi ký của những người xung quanh Lenin có sâu hơn không, những ấn bản xuất bản chính thức của nhà nước có đáng tin hơn không ?? Những văn bản bí mật của lãnh đạo mà nhà nước Nga không có, lại được xuất bản ở nước thù địch năm 1926 ?? Penicillin để chữa giang mai thì viêm họng dùng Penicillin cũng là do giang mai ??
Còn gì nữa, Stalin giết 30 triệu người à, dân số Nga lúc đó có đủ gấp đôi cái 30 triệu người đó không ?? Những lý sự như thế chỉ liệt não đến mức nào mới tin được ??
Mình nghĩ rằng, những điều đó đặt ở cái công cụ làm thối não wiki thì tốt hơn là ở đây.
Lênin chết đương nhiên do vết thương phát triển, vết thương rất nặng và nhiễm trùng nhiều lần, tái phát nhiều lần. Lênin có tham gia điều hành nhà nước đến lúc chết không ?? đương nhiên là có, ông suy kiệt về thể lực nhưng lại minh mẫn về trí óc.
Tài liệu chính thức đúng đắn thì đầy, nhưng một số người bệnh hoạn luôn thích tìm các gia vị thời trang.
Thời kỳ 1922-1939 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Nga. Sau một thời gian dài các mũi nhọn phát triển bị đè nén. Ở Nga, Lenin đã sáng suốt định nghĩa chính xác thực chất cửa sự thay đổi xã hội: "học, học, học". Trong khi đó, khi ĐCS Tầu lên, Mao thanh trừng trí thức. Còn một số nước hiện nay thì duy trì chính sách ngu dân bằng những công cụ như wiki.
Lenin chọn Stalin vào vị trí thay thế vì Stalin là người tỏ ra có đầu óc quản lý tốt, điều rất hiếm trong các thủ lĩnh Hồng Quân lúc đó. Stalin nổi lên mặt này khi tổ chức bố phòng thành phố sau này là Stalingrad (nay là Volgagrad), một trong những tiền tuyến hiếm hoi thành công trong phòng ngự trước cuộc nổi loạn. Tính chất quản lý là yêu cầu đặc biệt, cần thiết cho một kiểu nhà nước chưa bao giờ có. Chúng ta biết rằng, "tay chân" của Stalin đều là những thiên tài về quản lý trên mọi mặt, ví dụ Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Alexey Kosygin sau này, ngừoi đã sơ tán các nhà máy trong một kế hoạch siêu chính xác, sao cho các đoàn tầu cuối cùng rút đi thì đạn pháo quân Đức cũng vừa đến, và xưởng mới sản xuất trong khi nóc chưa hoàn thành. Chính nhờ sự quản lý chính xác đó mà chỉ trong chưa đến 20 năm, Liên Xô đã là một cường quốc, mạnh hơn Anh, Pháp cả về khoa học kỹ thuật và kinh tế. Chúng ta cần biết là năm 1922, Liên Xô gần như chết đói.
Trước thời cách mạng, chính quyền Nga Hoàng đã đè nén nhiều áp lực thúc đẩy phát triển. Đáng lý, các áp lực đó phì ra nước ngoài như đa số các nước châu Âu sau này, nhưng ở Nga, nhờ truyền thống tin thần, nhờ chính phủ mới mà các nhà phát triển đã không làm như vậy.
Mình ví dụ. Trước 1917, ở Nga có rất nhiều chương trình phát triển vũ khí tiên tiến, tập trung vào các loại vũ khí chủ lực như súng trường, súng máy, pháo và xe việt dã. Về súng trường, sau năm 1890, nước Nga trở thành nước có súng trường tiên tiến nhất mạnh mẽ thế giới Mosin, nhưng ngay từ những lô đầu tiên, Mosin đã bị bán hợp đồng sản xuất ra nước ngoài, ở Pháp và Mỹ. Các xe việt dã không được phát triển. Lúc đó, nước có kxyt huật vú khí tiên tiến nhất là Đức, lại có tình anh em lâu đời với Nga. Nhưng ngay cả các khẩu pháo đang được đặt làm ở Đức sau 1905 cũng dần bị chuyển sang các hợp đồng bòn rút ngân sách ở Pháp. Quan hệ mang tính dối trá biển thủ này đã dẫn đến việc Nga ủng hộ Pháp-Anh, tấn công Đức, bỏ đi tình anh em lâu đời. (Nước Phổ là một sản phẩm của Ba Lan-Lithonia tan rã, sự tan rã của nước này là kết quả Đại Chiến Bắc Âu của Piotr).
Nikolai Filatov là một trong những người đi đầu trong việc phát triển thế hệ vũ khí cầm tay mới. Ông đã đào tạo nhiều học trò như Vladimir Fedorov, Fedor Tokarev, Georgi Shpagin, Yakov Roshchepey, Vasily Degtriarev. Nikolai Filatov không được đầu tư cho một khẩu súng nào, nhưng ông đã đưa ra những lý thuyết cả về kỹ thuật và chiến thuật quân sự cho súng tự động.
Về lý thuyết. Người Pháp từ 1886 đã đưa ra súng trường Lebel với các đặc điểm của súng trường hiện đai: vỏ đạn và đầu đạn bọc kim loại mềm, vỏ đạn côn thay cho hình trụ, đầu đạn chóp nhọn có trọng tâm nằm sau tâm khí động thay cho đạn hình trụ, đầu đạn thép bọc kim loại mềm thay cho chì, thuốc đạn là chất cháy chậm tạo hình dẹt. Các kỹ thuật đầu đạn này do Phổ đề xuất (đạn spitzgeschoss), nhưng Pháp ứng dụng đầu tiên. Tuy nhiên, người Pháp đã không đủ cơ sở toán học và đầu tư kỹ thuật để phát triển đạn đến đầu đến đũa, hình dáng đầu đạn không đúng lắm, nên không tỏ rõ ưu việt và do đó, đạn cũ vẫn được dùng với tỷ lệ chủ yếu với súng có độ xoắn nòng cao. Thuốc đạn Pháp chế tạo đơn giản, không đủ độ bền. Người Đức áp dụng một số tiến bộ trên G98. Nhưng đến năm 1908, Nga mới là nước đầu tiên áp dụng phổ thông loại thuốc nổ viên bền chắc và đầu đạn được tính toán đúng, với độ oắn nòng đúng. Từ đây, Mosin là loại súng trường mạnh nhất, máy móc nó không tinh vi được như Mauser Đức, do ưu tiên khả năng sản xuất, nhưng đầu đạn Nga rất mạnh và đạn nhỏ gọn.
Cái lớn nhất mà nhóm Nikolai Filatov đưa ra là các chiến thuật sử dụng súng tự động, từ đó, định hình các loại súng tự động nên làm, trong đó có "súng trường xung phong", đi trước thời đại. Ngày nay vẫn là thời đị của súng trường xung phong.
Đây là thời kỳ được các nhà kỹ thuật vũ khí Nga gọi là "thời hy sinh toàn diện". Họ tập hợp với nhau, chia sẻ công việc và cuộc sống, phát triển vũ khí mà không nhận được bất kỳ sự giúp đỡ nào của chính quyền, quân đội và các nhà công nghiệp. Nước Nga có các thiết kế súng tự động, nhưng một số lượng ít ỏi súng quân đội được dùng chỉ do nhập khẩu. Nhóm các nhà khoa học thiết kế súng tự động đã tập hợp với nhau như vậy, cũng như các nhóm khoa học khác, về sau này trở thành nòng cốt kỹ thuật Liên Xô. Như vậy, cuộc cách mạng 1917 diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Đảng Bolsevic chỉ phụ trách quân đội-chính trị, còn nhóm các nhà khoa học này phụ trách súng tự động, cũng như các nhà khoa học khác về máy bay, tên lửa, pháo binh, xe tăng, tầu thủy, cho đến nông nghiệp y tế...
Nikolai Filatov (1862-1935) là người đi đầu, ông đào tạo và cùng tham gia thiết kế súng với các học trò của mình. Đến lượt các hoạt trò của ông trở thành những nhà phát triển kỹ thuật và lãnh đạo công nghiệp súng chủ chốt Liên Xô. Tiếp theo, họ lại đào tạo ra lớp học trò mới vẫn giữ những vị trí như vậy cho đến sau WW2, và nối tiếp bằng AK-47. Nikolai Filatov tốt nghiệp học viện kỹ thuật pháo binh Mikhailovskaia. Vladimir Grigoriêvich Fêdorov (1874-1966) cũng tốt nghiệp ở đây sau đó, cả hai ông đều là những sỹ quan kỹ thuật trong quân đội. Vasily Degtriarev (1880-1949) lại xuất thân từ thợ thuyền, Năm 11 tuổi, đúng năm Mosin được sản xuất, ông đã làm việc trong quân xưởng Tula, nơi Mosin được sản xuất từ giai đoạn mẫu thử nghiệm. Sang tk 20, Degtriarev đi lính, Fêdorov nhận ngay ra tài hoa trong con người này và lo lót chuyển ông về làm giúp việc. Ba ông đã cùng nhau phát triển mấu súng trường Fêdorov Avtomat, Filatov tính toán, Fêdorov phác thảo thiết kế và Degtriarev thực hiện bản vẽ. Cùng trong giai đoạn 1900-1910, Tokarev, Simonov và một vài nhà thiết kế Nga nữa cũng đưa ra những mẫu súng tự động, nhưng đều xếp xó.
Đến năm 1909, Fêdorov may mắn nhận được chương trình thử nghiệp từ Hôi Đồng Súng Trường. Từ năm 1909-1911 ông thực hiện thử nghiệm đợt đầu, nhưng súng không được đưa vào sản xuất, trang bị. Lúc đó, quân Nga dùng hai loại trung liên là Madsen (Đan Mạch) và Mondragon (súng do Mexico thiết kế nhưng sản xuất ở châu Âu, Nga nhập phiên bản trung liên Đức). Nhóm thiết kế đã sớm nhìn thấy hiệu quả của súng trường tự động, họ thấy sớm hơn trước thời đại các biến thể của nó, là súng trường tự động hạng nặng, súng trường xung phong và trung liên. Đây là những nghiên cứu chiến thuật-kỹ thuật đầy đủ, tiên tiến và thực tế nhất trên Thế giới lúc đó. Tokarev phát triển súng trường tự động hạng nặng, vẫn dùng đạn Mosin nhưng lên đạn tự động. Tokarev và Fêdorov, Degtriarev đề xuất và phát triển những phiên bản trung liên, đại liên và súng hạng nặng 12,7mm-14,3mm.
Đến năm 1913, Fêdorov đã định hình phát triển súng trường tự động thành súng trường xung phong. Súng cải tiến mới được thử nghiệm năm 1913 nhưng vẫn xếp xó, mặc dù cả hai lần thử nghiệm đều được đánh giá thành công. Đến năm 1915, do cả Madsen Đan Mạch và Mondragon Đức đều không mua được nên Fêdorov Avtomat được duyệt đưa vào sản xuất, trang bị. SÚng được dùng trong các trận đánh với Rumania. Tuy nhiên, chính quyền dốt nát và dối trá bẩn thỉu không dùng đạn Fêdorov, mà bắt Fêdorov Avtomat cải tiến dùng đạn Nhật 6,5mm hiện Anh đang gi công cho Nhật. Chính vì vậy, khi Cách mạng nổ ra, Anh cấm vận, súng không có đạn và ít được dùng. Lần cuối cùng súng được sử dụng là Chiến tranh Phần Lan, súng cũng được trang bị trên các xe bọc thép dã chiến vũ trang Liên Xô sản xuất thập niên 192x-193x.
Fêdorov Avtomat được thiết kế trên những yêu cầu đặt ra cho súng trường trong chiến tranh Nha Nhật 1905-1906. Lúc đó, súng trường như Mosin bắn quá chậm, dài khó di chuyển trong công sự, nên khi giáp lá cà chỉ dùng lê. Ông đã thỏa mãn các động tác chiến đấu bằng các khả năng bắn được khi đang chạy, băng đạn rời thay nhanh, súng ngắn gọn hơn. Súng cũng thỏa mãn tầm bắn xa của súng trường truyền thống bằng đạn nhỏ hơn thông qua khái niệm cơ sở sau này : "tầm bắn hiệu quả". Đây là các đặc tính cơ sở và đầy đủ của "súng trường xung phong" hiện nay. Fêdorov Avtomat ra đời trước AK gần nửa Thế kỷ và hai cuộc đại chiến Thế giới.
Lúc đó, Fêdorov Avtomat không phải là súng trường xung phong duy nhất trên Thế giới. Mondragon cũng có phiên bản xung phong, nhưng Mexico không đủ điều kiện kỹ thuật để theo đuổi. Trong khi đó, Pháp và Mỹ sai hoàn toàn khi đưa ra Chauchat và Browning M1918 BAR , họ đặt yêu cầu chiến đấu sai và cấu tạo súng ngược hoàn toàn so với yêu cầu nhỏ gọn của súng trường xung phong, thêm nữa, các súng này không đủ điều kiện để được gọi là súng trường vì bắn khi khóa nòng mở, chúng chỉ là các trung liên tồi. Trước đó, Pháp cũng dùng Madsen và phiên bản bắn phát một tự động của trung liên này, nhưng do chiến tranh, cả hai nguồn trung liên đều ở bên Đức, Pháp mới đắp điếm bằng Chauchat. Thay cho đặc tiwnhs ưu việt, Chauchat được quảng cáo ầm ỹ, và Browning M1918 BAR ăn phải bả, thiết kế theo concept này.
Đặc biệt, Degtriarev đã được học hành rất nhiều khi làm việc cùng các nhà tổ sư súng tự động Nga. Sau này, ông trở thành Tiến Sỹ Khoa Học, Viện Sỹ. Thành tích của ông là truyền súng tự động Nga từ Filatov đên lớp người AK. Cùng phiên bản Fêdorov Avtomat năm 1915, Degtriarev đề xuát một phiên bản có máy súng của ông. Đây là kiểu máy súng đặc trưng vẫn sản xuất ở một số nước, cực kỳ ưu việt lúc đó và lâu dài sau này. Nhưng Tokarev còn bật nữa là tên lính cần vụ quèn. Tuy nhiên, người thợ đi làm từ năm 11 tuổi này vẫn được các người thầy dậy dỗ, cung cấp cả lương ăn cho đến các vấn đề sống còn khác, vẫn ngày đêm phát triển súng và sau này sẽ là Viện Sỹ Hàn Lâm.
Ngay sau khi Cách mạng tháng 10 nổ ra, cuối năm 1917, Fêdorov và Degtriarev mang một vài máy móc nghèo nàn đến Kovrov, một địa điểm cách Maxcơva 250km, xây dựng lên nhà máy nay là nhà máy vũ khí cầm tay lớn nhất Nga, một trong những hãng cơ khí lớn nhất Thế giới. Xí nghiệp này vẫn mang tên "Завод им. В. А. Дегтярёва" ( ЗиД ) cho đến nay. Thật ra, đến một cuộc bầu cử năm 1918 hai ông mới giữ chính thức các chức vụ trưởng ban phát triển và lãnh đạo nhà máy, còn ban đầu, chắc nhiệm vụ lớn nhất của họ là sống còn trong loạn chiến.
Từ năm 1917-1922, hai ông thiết kế và sản xuất các phiên bản từ Fêdorov Avtomat. Từ các trung liên, súng trường đến súng máy cho máy bay. Dần dần, kiểu máy Degtriarev chứng minh tính ưu việt và trung liên DP ra đời khoảng năm 1922-1924. Năm 1927, súng được chấp nhận làm vũ khí chủ lực. Kiểu máy này có bản vẽ sơ khai từ Thụy Điển cuối tk19, sau này, G43 (súng trường 1943) dùng kiểu khóa giống Thụy ĐIển hơn DP, nhưng trích khí của SVT Tokarev, được chấp nhận muộn màng ở Đức. Lúc đó, trên Thế giới phổ biến dùng loại máy súng chèn nghiêng như ZB26 Tiệp Khắc, sau này súng này được dùng ở Đức với tên MG 26(t), Anh mua bản quyền chế tạo với tên Trung liên Bren. BAR Mỹ cũng là máy chèn nghiêng. Lúc đó, thế giới chỉ có một vài phiên bản trung liên ít ỏi đó thôi, kiểu máy Madsen đã lạc hậu và sau WW2, những năm 1950, Madsen chuyển sang dùng máy DP. Máy chèn nghiêng làm rung súng khi băn loạt liên thanh. Máy DP có độ bền, độ tin cậy siêu việt được chứng minh cho đến nay và rung đều không lệch. Một nhược điểm của DP gây ra bởi đạn Mosin có gờ móc, làm băng đạn không tin cậy, nhưng không ngăn cản đó là trung liên hàng đầu Thế giới. ZB26 có nòng làm băng thep đặc biệt, bí truyền của nhà máy Zbrojovka Brno, nòng nóng đỏ đổ nước vào không nứt, bắn ngay được, nhưng các đặc tính trích khí, đẩy về không tin cậy và nhìn chung, tổng thể không bằng DP. Đặc biệt, DP rất dễ chế tạo, nên Hồng Quân nhanh chóng có một lượng lớn súng máy và là một trong những lực đẩy quan trọng nhất để Nga thành cường quốc sau thời gian ngắn. DP về sau có phiên bản dùng băng dây, là súng máy đa năng kiêm trung-đại liên DPM, trung liên RPD dùng đạn AK nhưng cấu tạo giống hệt DPM vẫn được nhiều nước sản xuất đến ngày nay.
Chauchat và BAR thiết kế sai, ZB26 vật liệu tốt nhưng thiết kế chưa hoàn thiện, đương nhiên, DP là trung liên đứng đầu Thế giới lúc đó nếu xét tổng thể, đó là lý do nó vẫn sống đến ngày nay. Mở ngoặc thêm, kiểu trích khí ZB26 không hoàn thiện được, yếu mà nặng, hay hóc, nhưng sau này được áp dụng hết sức ưu việt trên AK.
Tokarev phát triển kiểu trích khí DP áp dụng vào súng trường tự động. SVT trở thành mẫu mực về loại súng này, trở thành vũ khí chủ lực của Hồng Quân trong WW2. Có nhiều chuyện vui quanh SVT. Đức không thể hoàn thiện súng trường tự động, cuối cùng chìa khóa của kỹ thuật là trích khí của địch SVT, được áp dụng muộn màng 1943 (G43). Thụy Điển chẳng cần nghĩ nhiều, lấy máy SVT nhưng dùng trích khí hơi giống MAS Pháp làm AG42 (1942). Thụy Điển tự làm súng không phải để đánh nhau, chỉ để khỏi phải mua của bên nào đang đánh nhau lộn tùng phèo, nên ngay sau đó họ phát hiện ra ưu việt của trích khí SVT, nhưng thay vì sửa, họ quảng cáo cho át đi. AG42 có máy giống hệt SVT nhưng nhìn vỏ máy hơi khác vì dùng công nghệ đúc chứ không dập phay như Liên Xô, sản xuất được nhanh hơn. AR-15 (M15) khi cóp nhặt các giải pháp khắp thế giới đã chọn trích khí AG42 vì trông có vẻ gọn nhẹ. Thế nhưng sau đó Armalite thay mặt AG42 bê trích khí SVT, giống ý như đúc, thành AR-18. Lúc đó, AR-15 đã được Colt mua lại và đặt lên ngai vàng M16. Sau 40 năm đánh nhau trong trạng thái đẻ non què quặt, nay LWRC lại đưa trích khí AR-18 vào M16.
Sau khi AK ra đời, khẩu súng bán rộng nhất ngoài thế giới AK cho đến năm 1980 là FN FAL. Nó cũng như AG42, dập khuôn máy SVT cho công nghệ đúc. Trích khí nó hơi khác, nhưng dễ dàng thấy đó là SVT liên thanh hóa. Châu Âu và các nước không phải dùng súng viện trợ khác dùng FN FAL cho đến khi M16 chuyển sang nòng-đạn châu Âu SS193 (NATO 5,56x45). Từ đó, châu Âu dùng nòng đạn này trên các súng họ sản xuất và sử dụng.
Trong thập niên 193x, đạn Nga lại hoàn thiện một bước nữa, trở thành loại đạn tốt nhất cho súng trường đến nay, nếu trừ cái gờ móc thừa kế từ Mosin. SVT và em kế nghiệp SVD vẫn là các mẫu mực của súng bắn tỉa cho đến nay.
Georgi Sêmionovich Shpagin (1897-1952) đi sau, nhưng cũng cùng nhóm. Ông là người phát triển PPSh-41 lừng danh. Cả SVT và PPSh-41 đều được Đức sử dụng và làm nhái rất nhiều, bất chấp lòng căm thù với quân địch đang sục sôi, vì súng quá tốt. PP tiếng Ng là súng ngắn bắn nhanh, được người Đức phát triển từ cuối WW1, tên Đức là MaschinenPistole, MP như MP-18. Sau 1917, Shpagin đề xuất và được chấp nhận sản xuất số lượng nhỏ (cả Fêdorov Avtomat cũng chỉ được sản xuất nhỏ) PP. PP là loại súng máy, bắn liên thanh, nhưng bắn đạn súng ngắn. Nó có tầm rất ngắn, nhưng các khả năng xung phong, chiến đấu tầm gần, chiến đáu trong công sự, giáp lá cà... tốt hơn súng trường. Lúc đó, Hồng Quân rất nghèo, việc tổ chức sản xuất một loại đạn mới cho Fêdorov Avtomat là điều khó chấp nhận, nên các phiên bản Fêdorov Avtomat dùng đạn Mosin được sản xuất, là trung liên. Thay thế tính năng xung phong là PP.
PP Nga ban đầu là các bản copy MP Đức, được chấp nhận sử dụng rộng trong 193x dứoi tên Degtriarev. Tuy nhiên, đến PPSh-41 thì súng mới hoàn thiện và được sản xuất lớn. SVT và PPSh-41 là hai loại súng được Liên Xô sản xuất nhiều nhất trong thời kỳ chiến tranh.
Từ năm 1943, nhóm phát triển súng tự động đã đề xuất sản xuất lại một súng có tính năng chiến đấu như Fêdorov Avtomat. Bên Đức cũng có một chương trình tương tự là MKb35 (cạc bin liên thanh kiểu 1935), nhưng phe phái Hitler đã không nhìn thấy ưu việt của súng này, thay chương trình bằng MP. Trong WW2, khả năng xung phong đã yêu cầu cao vọt, nhưng không thể bỏ khả năng súng trường. Vậy nên xuất hiện nhu cầu lính phải mang hai súng, hoặc mất một phần khả năng chiến đấu. Chương trình được duyệt với bước đầu tiên là đạn M43, ngày nay, tuy cấu tạo khác nhưng đạn AK vẫn ký hiệu là M43.
Những nhà thiết kế súng nòng cốt của Liên Xô, những người đã đi qua "thời kỳ hy sinh toàn diện", lúc này đã đứng ở những vị trí lãnh đạo công nghiệp và kỹ thuật súng ống của một siêu cường. Nikolai Filatov không còn sống đến ngày này. Các học trò của ông đặt ra những yêu cầu cho một Fêdorov Avtomat hiện đại. Nó phải gọn nhẹ như PP, MP, nhưng lại tầm xa như súng trường, máy móc tin cậy như khóa nòng DP, trích khí ưu việt như SVT. Họ không còn phải chia cho nhau từng đồng lương để cùng vẽ và rèn súng nữa, nhưng lại phải tích lũy kinh nghiệm chiến đấu và chế súng bao nhiêu năm đó để đứng trên cương vị Hội Đồng. Trước đây, họ bị Hội Đồng Súng Trường hành lên hành xuống, còn ngày nay, họ tổ chức cuộc thiết kế súng lớn nhất trong lịch sử kỹ thuật.
Phiên bản đầu tiên được đưa ra chiến đấu để đánh giá là Sudaev AS-44. Súng chế thành 3 bản, trung liên, súng trường và cạc bin liên thanh. Súng còn nhiều nược điểm, qua chiến đấu, nó cung cấp dữ liệu cho các nhà thiết kế sau hoàn thiện. Cải tiến lớn đầu tiên là đạn thu nhỏ bớt lại, từ 7,62x41 xuống 7,62x39.
Sang năm 1948, còn có các phiên bản của Tokarev , Bulkin và đặc biệt là của Kalashnikov . Đến năm 1949 thì Liên Xô có AK, quen gọi hơi sai là AK-47. Đạn súng còn hoàn thiện nhiều nữa. Đạn AK-47 có sức sát thương cao hơn NATO 7,62x51 (đạn súng trường nặng NATO), gấp đôi NATO 5,56x45 (đạn M16A2, hay FN SS193), độ chính xác, độ tin cậy thì suốt 60 năm qua, càng ngày càng được đánh giá trên cả tuyệt vời. Trong khi đó, châu Âu chấp nhận đến năm 1980 mới có súng trường xung phong đúng nghĩa (họ không dùng cả súng lẫn đạn M16 Mỹ). Còn Mỹ thì có AR-15, phiên bản đẻ non của AR-18.
Trên đây mình trình bày một nhánh phát triển nhỏ, rất nhỏ, trong toàn bộ các phát triển của thời 1922 đến WW2. Người Nga có thừa truyền thống giáo dục, ý chí để phát triển, nhưng bị chính quyền biển lận dối trá kìm hãm. Đến sau 1922, các áp lực phát triển dồn nén lâu ngày này được bung ra. Đây mới chỉ là một nhánh rất nhỏ, mà đã phát triển vượt bậc như vậy. Từ một nước lệ thuốc nước ngoài về súng đạn (trong khi Mosin là thiết kế Nga), súng cầm tay Nga đã xứng đáng là một bộ phận của siêu cường.
Để quản lý các áp lực phát triển phi thường đó bung ra, không thể là một nhà lãnh đạo đơn giản.
Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 02-07-2009 thời gian gửi bài 00:15
|