Chuyện buôn tiền ngày trước
Cùng với quá trình giao thương buôn bán, người Pháp, người Tây Ban Nha đã lần lượt giới thiệu và tìm cách lưu hành đồng tiền của họ vào Việt Nam. Các loại tiền này đều được đúc bằng bạc nguyên chất, trùng với bản vị tiền Việt nên cũng không quá khó khăn để được người Việt - chủ yếu là người Đàng Trong - chấp nhận.
Tiền đồng - tiền bạc
Đồng bạc Mexicana
Các triều đại phong kiến Việt Nam đều rất chú trọng đến việc thống nhất tiền tệ trong cả nước. Mỗi triều đại đều tổ chức đúc loại tiền của riêng mình. Năm 1803, một năm sau ngày lên ngôi, Hoàng đế Gia Long đã giao cho Thượng thư Bộ Hộ Nguyễn Văn Khiêm thành lập và đặc trách Cục Bảo Tuyền (còn gọi là Bắc thành tiền cục) có nhiệm vụ đúc tiền, bạc nén, vàng thoi theo hình thức, kích thước và trọng lượng đúng quy chuẩn để cung cấp lưu thông trên cả nước. Bạc nén, vàng thoi đều phải đóng dấu hai chữ “Trung Bình” trước khi đưa ra lưu hành hay cất kho tích trữ. Cùng một trọng lượng, bạc nén có dấu trên thị trường được tính giá cao hơn bạc nén không dấu.
Mỗi quan tiền “Gia Long thông bảo” có đường kính 5 phân 3 ly, nặng 2 đồng cân 4 lạng (đơn vị ngày xưa), được đúc bằng đồng. Do nguyên liệu đúc tiền nên khái niệm “tiền đồng” hay “đồng” được dùng thành quen, thay thế cho chữ “quan tiền”. Các triều đại sau cũng lần lượt phát hành thêm những đồng tiền mang niên hiệu của từng đời vua như “Minh Mạng thông bảo”, “Tự Đức thông bảo” v.v...
Trong một thời gian dài đến đầu thế kỷ XX, một cách không chính thức, bạc vẫn được xem là bản vị của đồng tiền (ngân bản vị). Giá trị của tiền so với bạc và vàng biến thiên tùy thời điểm. Năm 1812, Vua Gia Long định giá 1 lạng bạc bằng 2,8 quan tiền “Gia Long thông bảo”, 1 lạng vàng bằng 10 lạng bạc. Các triều đại sau định giá 1 lạng vàng bằng 17 lạng bạc. Năm 1867, triều Tự Đức định giá 1 lạng bạc bằng 10 quan tiền “Tự Đức thông bảo”. Năm 1884, đĩnh vàng 1 lượng đúng 10 tuổi được tính 300 quan tiền, cứ non đi 1 tuổi (hàm lượng vàng giảm 1%), đĩnh vàng bị bớt giá 15 quan tiền.
Mỗi quan tiền vì vậy có giá trị khá lớn, không tiện dụng trong các giao dịch nhỏ lẻ của đời sống. Do vậy, mệnh giá tiền lại tiếp tục được chia nhỏ: 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 60 đồng (đúc bằng nguyên liệu chính là kẽm, pha chì, thiếc và một hàm lượng đồng nhỏ), gọi là đồng kẽm. Như vậy, mỗi quan tiền có giá trị bằng 600 đồng kẽm.
Bắt đầu từ năm 1816, năm chính thức lưu hành tiền “Gia Long thông bảo”, việc phát lương cho quan lại hay cung cấp tài chính cho địa phương đều sử dụng tiền đồng. Người dân nộp thuế cũng nộp bằng tiền đồng nhưng có thể quy ra bạc để nộp thay thế. Thời Minh Mạng, triều đình đã có 4 lần chở tiền từ Phú Xuân vào cung cấp cho Gia Định thành và các tỉnh miền Nam.
Năm 1820, chở 200 ngàn quan; năm 1821, chở 50 ngàn quan; năm 1824, chở hai lần, đầu năm cấp riêng cho Gia Định thành 200 ngàn quan, đến tháng 6 lại cấp thêm cho các tỉnh từ Quảng Nam đến Gia Định thành 750 ngàn quan.
Đồng bạc con cò và chiến tranh bạc cắc
Cùng với quá trình giao thương buôn bán, người Pháp, người Tây Ban Nha đã lần lượt giới thiệu và tìm cách lưu hành đồng tiền của họ vào Việt Nam. Các loại tiền này đều được đúc bằng bạc nguyên chất, trùng với bản vị tiền Việt nên cũng không quá khó khăn để được người Việt - chủ yếu là người Đàng Trong - chấp nhận.
Theo nghiên cứu của bác sĩ Nguyễn Anh Huy, một nhà sưu tầm tiền cổ, thì từ năm 1741, tức năm Cảnh Hưng thứ 2, chúa Nguyễn Phúc Khoát đã ban bố một đạo dụ quy định 1 đồng bạc Pháp tròn có tỉ lệ ăn 1,3 quan (780 đồng kẽm) và 1 đồng bạc vuông Mexico ăn 1 quan 2 tiền 48 đồng (768 đồng kẽm).
Một số đồng bạc châu Âu lưu hành tại Nam Kỳ trước thế kỷ XIX
Theo thời gian, phần thắng thuộc về đồng bạc Mexicana. Dù đây không phải là đồng tiền riêng của bất kỳ nước nào, nhưng do trọng lượng chuẩn (mỗi đồng nặng 0,72 lạng bạc)å, hàm lượng tinh chất bạc bảo đảm nên nó được chấp nhận ở hầu như tất cả các hải khẩu có quan hệ giao thương quốc tế nhộn nhịp, từ Trung Hoa đại lục, Hồng Công, Singapore, Xiêm đến Đàng Trong và sau này là toàn cõi Đông Dương. Nó vừa được xem như một thứ đơn vị để tính toán, lại vừa được dùng làm tiền mặt để thanh toán trong các thương vụ giao dịch lớn giữa thương buôn các nước.
Một mặt của loại tiền này có in nổi hình con ó biển. Người miền Nam nôm na gọi biến nó thành... con cò và cho ra đời tên gọi “đồng bạc con cò”! Người miền Bắc lại có vẻ chú ý nhiều hơn đến hình đốm lửa như cánh hoa nở bung ở mặt thứ hai của đồng tiền để gọi nó là “đồng bạc trắng hoa xòe”.
Sau khi hạ thành Gia Định, ngày 10/4/1862, Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha, Thiếu tướng Bonard đã ký quyết định cho phép hợp pháp hóa việc lưu hành đồng Mexicana trong những vùng lãnh thổ mà Pháp đã chiếm. Khái niệm “đồng bạc”, “tiền bạc” bắt đầu phổ biến trong giai đoạn này, bên cạnh quan, tiền và tiền đồng, tức loại tiền “thông bảo” đã phổ biến và thông dụng từ trước đó.
Đối với người Pháp, sử dụng tiền đồng, tiền kẽm quả là điều quá bất tiện. Mỗi đồng Mexicana đổi được hàng kilôgam tiền kẽm. Mỗi lần đi chợ mua thức ăn cho lính, sử dụng tiền kẽm thì phải chở theo cả xe bò tiền! Đồng Mexicana vì thế càng trở nên thông dụng bởi được cả người Pháp lẫn người dân sở tại chấp nhận.
Chiếm xong Nam Kỳ, Pháp đã ban hành nhiều đạo luật nhằm kiểm soát chặt làn sóng nhập cư và sự thao túng thương nghiệp của người Hoa. Để trả đũa, người Hoa ở Chợ Lớn nảy ra “sáng kiến” đục chính giữa đồng bạc con cò một cái lỗ tròn (chắc để dễ luồn dây vào xâu như tiền phương Đông). Việc này dĩ nhiên khiến trọng lượng bạc của đồng Mexicana bị hao hụt và khiến nó bị mất giá.
Bất chấp điều đó, tại khu vực Chợ Lớn, người Hoa chỉ chấp nhận tiền đã đục lỗ, cương quyết không bán hàng cho người Pháp, nếu họ đưa tiền còn nguyên chưa đục. Do người Hoa nắm gần như trọn vẹn nền thương mại bản địa nên bất đắc dĩ, người Pháp phải sang tận Hồng Công mua - với giá rất đắt - tiền đã đục lỗ (gọi là chop dollar - tiền dấu) để về cung cấp cho việc giao dịch, mua bán hậu cần của lính đồn trú vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.
Lo đủ tiền dấu cho Nam kỳ thuộc địa, người Pháp lại vấp phải thiệt hại nặng hơn khi họ cần tiền Mexicana cho những giao dịch khác ngoài xứ Nam Kỳ. Dĩ nhiên là các khách hàng nơi khác, ngoại trừ Hồng Công và Sài Gòn, chỉ nhận tiền nguyên không bị đục lỗ (gọi là clean dollar – tiền sạch).
Hết cách, người Pháp lại phải sang Hồng Công mua tiền sạch với giá cao hơn 50%! Nhưng cứ hễ đồng tiền sạch nào mua được thì thương nhân người Hoa lại cho nó biến mất ngay đồng ấy và gửi chúng về Hồng Công để chờ bán lại cho người Pháp, khiến giá trị của đồng bạc sạch cứ thế bị đội lên mãi.
Theo : CAND.com.vn