Xem ảnh hoa, lá ở quê bác Bản đồ rồi nói chuyện côn trùng trong topic “Ảnh hoa lá bốn mùa” mình lại nhớ tới làng quê của mình những ngày về sơ tán.

Hồi đó mình cũng hay đi cất vó tôm. Được mẻ tôm, tép nào cho ngay vào rổ, đậy mấy nhánh lá tre vào cho tôm, tép không nhảy ra ngoài được.

Mới đầu mình cũng nhặt con Bà mụ và những con cá “thòng đong, cân cấn” vứt ra nhưng chị mình bảo “ăn được, không vứt”.
Có lần bắt được con “chuồn chuồn bà” chị mình bảo “cho con này cắn rốn sẽ biết bơi”.

Nhìn răng con chuồn chuồn như thế ai dám cho nó cắn. Mấy chị em bám cầu ao đập chân ầm ầm cho nổi người tập bơi rồi mấy hôm sau bác mình chặt cho cây chuối cứ ôm thân cây chuối tập bơi lòng vòng quanh ao. Một hôm có con rắn Ráo trên cây tre “nhảy” xuống ao bơi sang bờ bên kia, mấy chị em trố mắt nhìn rồi không dám xuống ao bơi nữa.

Hồi xưa quê mình lắm rắn thật.

Không những ở hốc đất trong bụi tre mà sau nhà dưới, có mấy cái thùng hỏng, nồi đất vỡ vứt đấy cũng thấy trứng rắn hoặc vỏ trứng rắn đã nở. Một hôm có con rắn Hổ mang nhỏ bò vào chuồng trâu, con gà mái đang nằm trong ổ gà trong chuồng trâu sợ quá nhảy bay ra kêu quang quác, mấy chị em mình chạy ra nhìn cũng sợ quá kêu ầm lên, nhặt đất ném đuổi, con rắn chắc cuống lên quăng bò sang chuồng lợn cạnh đấy bị con lợn sề ra cắn và xơi tái luôn. Chị em mình nhìn cảnh ấy sợ “xanh mắt mèo” tưởng con lợn nguy to vậy mà sau đó con lợn sề vẫn bình an, vô sự, chả thấy làm sao. Thế mới tài.

Nhà nông làm lụng, cấy hái vất vả, một nắng hai sương, “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời” mà hồi đó thóc cũng không đủ ăn. Khoai lang nhà bác mình mỗi khi dỡ về thì các loại rãi khoai, khoai nhỏ dùng để băm ra nấu cám cho lợn, gà ăn, những củ khoai nhỡ thì luộc và nấu cơm độn khoai còn những củ khoai to thì thái bằng dao thuyền rồi phơi nắng thật khô, cất vào chum đậy kín để dành đến lúc giáp hạt cũng nấu cơm độn khoai hoặc thỉnh thoảng đem nấu cùng với đỗ chè (đỗ xanh) và đường đen ăn cũng ngon ra phết. Mỗi khi nhà nấu cơm độn khoai, bà nội thương mình là cháu út ít lại ở Hà Nội về nên cứ bảo “cháu nhặt khoai ra cái bát này, ăn cơm thôi”. Nhưng mình ăn cơm độn khoai thấy vẫn ngon vì đang tuổi lớn mà.

Bà nội mình và bác dâu mình dệt lụa giỏi nên nhà có khung cửi để ở nhà dưới, năm nào cũng nuôi một lứa tằm. Nuôi tằm cũng vất vả lắm, phải đi mua lá dâu, phải mắc màn cho tằm không để tằm bị ruồi đẻ trứng vào, tằm ăn bữa sáng xong phải thay phân cho tằm, đến lúc tằm ăn rỗi thì bận kinh khủng. Khi tằm chín ngẩng đầu tìm chỗ làm tổ thì phải bắt tằm ở mấy cái nong, nia cho vào né rơm. Tằm nhả tơ đóng kén vàng óng được 3 ngày thì gỡ kén tằm ra đựng vào mấy cái thúng. Bác dâu mình ngồi cầm đôi đũa kéo sợi tơ từ những nắm kén tằm trong nồi nước sôi lăn tăn. Chị em mình thỉnh thoảng cũng đòi kéo sợi nhưng sợi tơ tằm không mịn đều mà cứ chỗ to chỗ nhỏ. Sợi tơ tằm phải đều và nhỏ thì mới dệt được lụa, còn những chỗ sợi thô, không đều thì chỉ dệt được sồi thôi. Lụa thì để bán còn sồi thì may áo hoặc nhuộm bùn ao rồi may váy cho bà nội, may quần cho bác dâu và các chị mình. Bọn mình ngồi vừa quay sợi tơ vừa thấy bác kéo gần hết kén tằm trong nồi thì bốc nắm kén khác bỏ vào, những kén tằm đã kéo hết tơ thì nhặt ra bóc màng ăn luôn con nhộng chín tới ngon lắm nhé.

Cứ mỗi khi kéo sợi tơ tằm xong là nhà lại có nhộng ăn trong mấy ngày. Những con tằm chín không nhả tơ làm kén được thì rang vàng tán bột hoặc ngâm rượu làm thuốc bổ. Nhìn bác dâu ngồi dệt thích ghê lắm nhưng mình tập mãi không sao bắt thoi tay trái được.
Mình nhớ một buổi tối bác dâu bị đau bụng, mấy anh chị ít tuổi hơn mình “sợ ma” không dám đi, mình cầm đèn Hoa kỳ đi lên Trạm xá Xã (sau Ủy ban hành chính Xã, cạnh trường mình học) để mời y tá, đi nửa đường bị gió thổi tắt đèn, vừa đi vừa lo bước xuống ao vì quê mình nhiều ao chuôm, nhưng rồi quen đường nên chẳng cần “mưa tránh trắng, nắng tránh đen” vẫn không sao.
Mình nhớ những ngày trường mình đi lao động đắp đê sông Cửu An cùng với mọi người trong làng đi làm thuỷ lợi. Những tảng đất cắt kéo to đùng nặng kinh khủng, về nhà chân tay đau mỏi mấy ngày.

Những ngày lao động đào hầm chữ A nóc bằng cây tre rồi đắp đất lên, những ngày vặn nùn rơm để đan mũ rơm, học sinh hồi đó đi học phải đội mũ rơm chống mảnh bom, mành đạn. Các chị dân quân đi làm đồng nhiều hôm vai khoác súng. Có những hôm có vài tốp máy bay Mỹ bay vút qua gầm rú kinh khủng nhưng may mắn là vùng quê mình vẫn bình yên không bị quả bom nào rơi xuống.

Noi theo truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất, anh dũng chiến đấu đánh đuổi thực dân Pháp và phát xít Nhật của cha, chú đi trước; thanh niên quê mình tiếp bước xung phong vào bộ đội “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” để lại quê hương những người mẹ, người vợ ‘ba đảm đang” vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Ảnh bố mình và anh mình (con bác thứ mười).
Trước lúc Đơn vị anh lên đường đi B (vào chiến trường miền Nam) anh ghé vào thăm chú thím. Cụ ông đèo anh lên Hiệu ảnh Quốc tế trên phố Hàng Khay chụp một kiểu ảnh kỷ niệm hai chú cháu lúc đó Cụ ông 46 tuổi còn anh 22 tuổi. (Tiếc là họ lại rửa ngược film).

Hơn một năm sau anh hy sinh ở Trảng Bàng, Tây Ninh.

(Anh trai của anh thì hy sinh ở Phú Yên). Mấy năm sau (chưa có scanner như bây giờ) mình đem tấm ảnh 6x9 lên hiệu ảnh họ che Cụ ông đi và chụp ảnh lại rồi phóng to để mang về quê đưa bác mình đặt ảnh anh lên ban thờ.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 đến nay quê mình đã có rất nhiều đổi thay. Từ mô hình quản lý kinh tế theo cơ chế bao cấp tập trung quan liêu sang mô hình quản lý kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Nhờ được quan tâm đến giáo dục - đào tạo, con em được học hành tiến bộ. Được quan tâm đến y tế cộng đồng, phòng chống bệnh tật, vận động kế hoạch hóa gia đình tốt, phổ biến khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp như giống lúa mới, phân bón, diệt trừ sâu bệnh, hệ thống kênh, mương, thuỷ lợi tưới tiêu tốt, có điện lưới quốc gia về đến tận thôn, xã, vào tận từng nhà nên nhiều gia đình đầy đủ tiện nghi văn minh như trên thành phố.

Người dân quê mình phấn khởi, hăng say sản xuất, làm kinh tế gia đình, làm giầu cho gia đình và góp phần làm giàu mạnh cho đất nước.
Đảo Cò xanh tươi trên vực nước mênh mông giữa làng quê trù phú xanh tươi cây trái đẹp biết bao. Quê mình đúng là nơi “đất lành cò đậu”, người dân đôn hậu, có văn hóa, cuộc sống thật thanh bình.