Truyện ngắn Một ngày không nói dối (Tokareva)
Một ngày không nói dối
(Victoria Tokareva)
Đêm qua tôi nằm mơ thấy cầu vồng.
Tôi mơ mình đang đứng trên mặt hồ, cầu vồng bảy sắc in bóng xuống mặt nước trong vắt, thế là tôi được đứng giữa hai sắc cầu vồng lung linh. Có một cảm giác thật hạnh phúc, một niềm hạnh phúc đầy đặn chỉ có thể có trong mơ và trên thực tế không bao giờ có thật. Trong cuộc đời thì bao giờ con người ta cũng thấy thiếu một chút gì đó để có được hạnh phúc.
Và rồi chính cái cảm giác hạnh phúc đầy đặn ấy đã đánh thức tôi dậy, khi nhìn đồng hồ thì tôi mới hiểu ra rằng tôi đã ngủ quên. Đáng lẽ ra tôi phải trở dậy cách đây nửa tiếng mới phải. Tôi nhẩm tính nếu cứ mặc nguyên quần áo ngủ mà chạy ra bến xe buýt thì tôi sẽ chỉ muộn giờ học một phút rưỡi, còn nếu từ tốn đánh răng, rửa mặt, mặc quần áo chỉnh tề rồi ăn sáng thì sau đó tôi không cần phải vội vã đến trường làm gì nữa, mà chỉ cần ngồi vào bàn và viết đơn xin thôi việc.
Có chuông điện thoại. Đó là Nhina, người yêu của tôi. Cô ấy hỏi tôi chiều nay có ghé qua nhà cô ấy không. Tôi nói rằng sẽ đến, mặc dù tôi biết là có thể sẽ không đến được vì đã hẹn với Lenka đi uống bia.
Bất chợt tôi nghĩ là dạo này tôi rất hay nói dối khi cần thiết và cả khi không cần thiết. Thường thì tôi nói dối toàn những chuyện vặt vãnh, vớ vẩn. Mặc dù toàn là những chuyện vô hại, nhưng tôi nghĩ có thể coi là một dấu hiệu không mấy tốt lành, bởi khi chúng ta nói dối có nghĩa là ta không tự do, là ta đang sợ một ai đó.
Tôi mặc quần áo và quyết định rằng hôm nay tôi sẽ không sợ ai cả.
Trên xe buýt vắng tanh. Chỉ có mình tôi và một người phụ nữ trung niên ngồi cạnh ca bin đang chăm chú đọc báo. 10 giờ sáng thì làm gì có ai đi xe buýt cơ chứ. Những cán bộ, viên chức thì đã đến chỗ làm từ lâu rồi, những người không phải đến công sở thì 10 giờ sáng đối với họ vẫn là quá sớm, họ chẳng việc gì phải vội vã cả. Họ có thể yên tâm đánh răng, rửa mặt, thay quần áo và ăn sáng. Còn với tôi thì 10 giờ đã là quá muộn vì mười phút nữa tôi có tiết ở lớp 5B.
Tôi dạy tiếng Pháp, mỗi tuần lên lớp 24 tiết. Tôi sẽ rất thích thú nếu chỉ phải lên lớp 24 tiết trong 1 năm, nhưng như thế thì lương năm của tôi sẽ chỉ bằng lương tuần.
Ngày xưa tôi muốn vào học ở khoa dịch nghệ thuật của trường Viết Văn Gorki nhưng tôi lại thi trượt. Sau khi tốt nghiệp trường đại học ngoại ngữ tôi muốn làm phiên dịch đi theo các đoàn khách nước ngoài, nhưng rất tiếc là chẳng ai thuê tôi cả.
Người yêu của tôi thường bảo rằng tôi thiệt thòi nhiều cũng vì tính nhút nhát, không quyết đoán, còn mẹ cô ấy thì bảo tôi là người bị đặt sai vị trí. “Vị trí” mà bà ấy muốn nói đến là cái nơi mà lương tháng nhiều bằng lương năm của tôi bây giờ.
Ôi, mải nghĩ lung tung tôi quên mất là phải mua vé xe buýt. Tôi móc trong túi ra mấy xu lẻ. Một đồng năm xu và một đồng ba xu.
Nếu tôi bỏ đồng năm xu vào thì thừa, mà bỏ đồng ba xu vào thì ăn gian của Nhà nước vì vé xe buýt là bốn xu. Nhưng hôm nay tôi quyết định nhận phần lợi về mình. Tôi thả ba xu vào máy tự động, xé vé và ngồi xuống chiếc ghế gần nhất.
Người phụ nữ vẫn đọc báo từ lúc tôi lên xe bỗng đứng dậy lại gần tôi và dằn giọng hỏi:
- Anh bạn trẻ, anh vừa bỏ mấy xu vào máy bán vé thế?
Hóa ra đó là người kiểm tra vé. Nhưng hôm nay lòng đã quyết là không sợ bất cứ ai nên tôi cũng dằn giọng lại:
- Ba xu.
- Thế là một chiếc vé là mấy xu anh có biết không?
- Bốn xu – tôi bình thản trả lời.
- Vậy tại sao anh chỉ bỏ có ba xu?
- Vì tôi tiếc tiền.
Người soát vé nhìn tôi đầy ngỡ ngàng.
- Nếu bây giờ phải nộp tiền phạt gấp mười lần thì anh có tiếc không?
- Sao lại không? Tiếc đứt ruột đi ấy chứ.
- Có thể lúc ấy anh cứ tưởng mình đã bỏ bốn xu vào – người soát vé cố vớt vát cho tôi.
- Tôi không tưởng gì hết. Tôi tiếc tiền nên chỉ bỏ có ba xu thôi. Chị thích phạt thì cứ phạt đi – giọng tôi đầy quả quyết.
Người soát vé không biết phải hành động thế nào nữa. Có lẽ đây là lần đầu tiên chị ta gặp phải một kẻ lậu vé thật thà đến ngang ngược như thế này.
- Thế anh cho rằng phạt được anh là tôi sung sướng lắm sao – bà soát vé hỏi.
- Tôi nghĩ rằng phạt kẻ lậu vé chính là ý nghĩa công việc của chị.
Xe buýt dừng lại. Đã đến bến của tôi. Tôi bỏ năm xu vào máy và xuống xe.
Sân trường im lặng và vắng vẻ. Lớp 5B của tôi ở phía hành lang. Lúc này chắc thằng Alex lại đang chạy quanh các bàn chọc ghẹo các bạn, còn thằng Kolia Sobokin thì đang vắt vẻo lên trần nhà.
Ngày trước đây là phòng tập thể thao nên bây giờ ở cuối lớp vẫn còn những cột xà đơn, xà kép. Lần nào cũng vậy giờ học tiếng Pháp của tôi ở lớp 5B cũng bắt đầu từ việc đuổi Sobokin từ trên cột xà xuống đất.
Hôm nay cũng vậy, tôi bắt đầu giờ học bằng cuộc đối thoại với Sobokin:
- Sobokin
- Sao ạ?
- Sao lúc nào cậu cũng phải trèo lên mấy cái cột ấy là thế nào? Chẳng lẽ cậu không nghĩ ra được cái gì hay ho hơn hay sao?
- Em thích ngồi đây, với lại em có làm ảnh hưởng đến ai đâu ạ.
Tôi nghĩ nó nói cũng có lý, quả thực nó ngồi đâu thì có ảnh hưởng gì đến ai đâu cơ chứ.
- Thôi được, nếu thích thì em cứ ngồi trên đó cũng được.
Nói rồi tôi dở sổ điểm ra và điểm danh.
Tôi tự thấy những giờ lên lớp của mình thật nhàm chán. Lúc nào tôi cũng chăm chăm nhìn đồng hồ xem còn bao nhiêu phút nữa thì hết tiết. Khi còn học ở trường đại học ngoại ngữ tôi đã đọc tất cả các tác phẩm của V. Hugo, Moler, Rable bằng nguyên tác còn bây giờ tôi lại đứng đây chỉ để giải thích cách chia động từ ở thời Imperfair và dịch những câu nhàm chán và đơn điệu: “đây là trường học”, “đây là bạn học sinh nam”, “bây giờ là buổi sáng…”
Tôi tin chắc là bọn trẻ cũng chẳng có hứng thú gì khi nghe tôi giảng bài cả. Có lẽ trò leo cột nhà của thằng Sobokin còn vui hơn nhiều. Hôm nay Sobokin tụt xuống đất ngay vì được tôi cho phép nên nó không còn gây được sự chú ý của cả lớp nữa.
Điểm danh xong tôi hỏi bài về nhà và bắt đầu gọi những học trò hay nhận được điểm kém lên bảng.
Một chiếc máy bay giấy bay vèo ngang qua lớp và đậu xuống chỗ Tamara Dubova.
- Dubova – đưa cái máy bay cho thầy.
- Thư nào ạ?
- Còn thư nào nữa. Chẳng lẽ em có nhiều thư gửi đến theo kiểu này lắm hay sao?
- Em không có cái nào ạ.
- Cái máy bay giấy ở dưới chân em kia kìa.
Dubova nhặt chiếc máy bay giấy lên đặt ngay ngắn trên bàn của tôi rồi lặng lẽ đi về chỗ.
- Zhenhia lên bảng và dịch đoạn văn thày đã giao về nhà – tôi nói.
Đọc trước cả lớp thì không tiện nhưng thật lòng tôi rất muốn biết các cô cậu 12 tuổi viết gì cho nhau nên mở tờ giấy ra đọc dưới gầm bàn “Dubova ơi, mình yêu cậu, nhưng mình không thể nói mình là ai. Mình viết ngoáy nên chữ xấu bạn thông cảm nhé. Kolia”. Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao cái tên “nặc danh” kia lại thích trèo lên trần nhà đến thế. Tôi bỗng thấy buồn quá. Bọn trẻ mới 12 tuổi và tất cả còn đang ở phía trước, còn tôi thì đã sắp sang đến bên kia đỉnh dốc rồi.
- Về chỗ đi – tôi bảo Zhenhia.
Tôi đứng dậy vừa đi dọc các hàng ghế vừa kể cho bọn trẻ nghe những điều mà bản thân tôi thích thú chứ không phải về cách chia thời Imperfair của các động từ. Tôi say sưa kể cho chúng về lịch sử của tiếng Pháp, về các danh nhân văn hóa Pháp, chuyện tại sao người nước ngoài dù có giỏi tiếng Nga thế nào đi nữa thì phát âm vẫn không thể chuẩn như người Nga được, về phương pháp dịch nghệ thuật, rằng một câu có thể dịch ra nhiều cách khác nhau. Rồi tôi đọc cho chúng nghe những trích đoạn từ những kiệt tác văn chương Pháp qua bản dịch của các dịch giả tài ba.
Tôi vừa kể vừa chăm chú ngắm nghía bọn trẻ. Đứa thì chắp ta dưới cằm, đứa thì đưa mắt nhìn xa xăm. Trước mắt tôi là ba mươi con người khác nhau, sinh động và đáng yêu, vậy mà từ trước đến nay tôi chẳng nhớ nổi tên đứa nào ngoài Kolia Sobokin và Tamara Dubova.
Sau đó chúng tôi cùng dịch câu: “C’est le matin” và nhận thấy rằng có ba phương án dịch câu này: “Buổi sáng”, “Sáng rồi”, “Giờ là buổi sáng”.
Chuông hết tiết reo lên, giờ học tiếng Pháp đã hết vậy mà tôi vẫn chưa kịp giải thích thế nào là Imparfait của nhóm động từ thứ nhất, chưa kịp gọi hết những cô cậu học kém lên bảng gỡ điểm.
Buổi trưa tôi xuống nhà ăn. Tôi muốn lấy món xúc xích và bắp cải, nhưng lúc này bà hiệu trưởng Vera Petrovna bước vào nhà ăn thế là tôi lại quyết định lấy món bánh rán với pho mát tươi.
Mỗi lần ngồi cùng với bà Vera tôi luôn thấy khó xử. Bà Vera không có gia đình, luôn làm việc miệt mài, hăng say và hình như đó chính là ý nghĩa của cuộc đời bà. Tôi cũng chưa có gia đình nhưng tôi làm việc không mấy siêng năng, vì ý nghĩa của cuộc đời tôi, nếu có, chắc chắn không đặt trong công việc.
Trong mắt bà hiệu trưởng không có người thông minh hay đần độn, không có những con người giản đơn hay phức tạp. Đối với bà chỉ tồn tại khái niệm người giáo viên tốt và người giáo viên tồi.
Tôi là một giáo viên tồi. Sự hiện diện của bà Vera luôn làm tôi cảm thấy lúng túng thế nào ấy, nên tôi rất ngại phải đối diện với bà. Tôi thường cố gắng làm cho bà hiệu trưởng hiểu rằng đằng sau bức tường của trường tiểu học là một cuộc sống khác và đó mới là cuộc sống thực sự của tôi. Nhưng hôm nay thì tôi không muốn nói điều gì cả. Tôi đợi xem bà Vera sẽ nói gì về việc tôi đi làm muộn.
- Sau khi tốt nghiệp anh xin đi dạy học ở đây à? – bà Vera cất giọng nhỏ nhẹ.
- Không, thực ra tôi muốn đến vùng kinh tế mới, đến thảo nguyên.
Đúng là sau khi tốt nghiệp tôi đã rất muốn đến vùng thảo nguyên xa xôi đó. Không phải là để đóng góp xây dựng đất nước, vì chẳng cần phải đi đâu xa nếu muốn công hiến thì ở ngay thủ đô Moscow tôi cũng làm được việc ấy. Vấn đề là ở chỗ người ta thường nói tính cách, khí phách của một con người sẽ được tôi luyện trong những hoàn cảnh khó khăn. Rất có thể sau vài năm lăn lộn ở vùng kinh tế mới tôi sẽ quay về Moscow và làm công tác dịch thuật, rất có thể tôi sẽ trở thành một dịch giả tài bà mà bà Vera chỉ vừa nghe đến tên tôi thôi đã phải trầm trồ ngưỡng mộ. Ngoài ra tôi cũng rất muốn biết thế nào là vùng thảo nguyên, làm quen với những người lăn lộn sống thiếu thốn tiện nghi nơi đó, những người không thèm đếm xỉa đến hộ khẩu thủ đô.
- Thế sao cậu lại không đi đến đó? – Bà Vera hỏi. Bây giờ tôi sẽ phải giải thích rằng lúc bấy giờ mẹ tôi đang ốm nặng vì bố đã bỏ mẹ con tôi để đến với người đàn bà khác. Rồi chuyện Nhina lúc bấy giờ chưa tốt nghiệp đại học và cần tôi giúp đỡ cô ấy tiền để sống và hoàn thành luận văn.
- Tôi cần phải ở lại Moscow.
- Để làm gì?
Bà Vera chắc rằng tôi đã ở lại vì những học sinh thân yêu ở lớp 5B nhưng tôi lại trả lời:
- Lúc bấy giờ có hai người phụ nữ rất cần đến sự giúp đỡ của tôi.
Bà hiệu trưởng hấp tấp cúi xuống ăn món xúp đã nguội. Chắc là bà không dám hỏi thêm tôi những câu hỏi về cuộc sống riêng tư nữa vì ai mà biết được tôi sẽ kể cho bà những gì khi “lên cơn” cởi mở. Bà Vera quyết định chỉ nói về công việc.
- Hôm nay cậu lại đi muộn đấy nhé – bà Vera nói – Đây là lần thứ ba trong tuần này rồi.
- Lần thứ tư rồi ạ – tôi đính chính lại.
- Cậu không biết ngượng à?
- Cũng không ngượng mấy – tôi thú nhận.
- Quá quắt ghê! Cậu có hiểu được việc giáo viên đến lớp muộn gây ảnh hưởng không tốt cho lũ trẻ thế nào không? Chúng chờ mãi không thấy thầy, cô sẽ trở nên lo lắng, hốt hoảng.
- Tôi không nghĩ thế. Tôi đến muộn chúng nó sướng thì có vì chúng nó tưởng tôi ốm.
Bà Vera nhìn tôi chăm chú và bỗng đỏ mặt bối rối. Chắc bà ấy nghĩ là tôi đang định làm duyên với bà ấy. Và điều đó làm cho bà hài lòng mặc dù trong mắt bà tôi là một thầy giáo tồi. Còn tôi, khi lần đầu tiên nhìn thấy bà hiệu trưởng đáng kính mỉm cười, thì nhận ra rằng thực ra bà Vera còn rất trẻ và không khô khan, cứng nhắc như tôi tưởng.
- Chẳng lẽ cậu sống không có hoài bão ư? – Bà Vera hỏi.
- Có chứ. Tôi luôn mơ ước viết được những truyện ngắn.
- Thế sao cậu không viết?
- Tôi viết rồi nhưng người ta không đăng.
- Vì sao?
- Họ nói là truyện của tôi rất dở.
- Không thể như thế được. Tôi thì tin chắc là truyện ngắn của cậu sẽ rất hay đấy.
Kể cũng lạ, chẳng hiểu sao mọi người xung quanh thường kỳ vọng ở tôi nhiều hơn là thực lực mà tôi có. Hồi còn nhỏ khi tôi theo học lớp đàn piano cô giáo dạy đàn thường nói với mẹ tôi rằng tôi là một chú bé có tài nhưng lười nhác, rằng nếu tôi chăm chỉ hơn thì rất có thể tôi sẽ thành một thiên tài âm nhạc như Mozart. Tôi thì biết chắc rằng dù thế nào đi chăng nữa cũng chẳng bao giờ có chuyện tôi sẽ trở thành một thần đồng hay một cái gì đại loại như thế.
- Hôm nay không thể nói chuyện gì nghiêm túc với cậu được – bà Vera vừa nói vừa sửa lại mái tóc.
Chuông báo giờ học mới bắt đầu. Tôi có tiết ở lớp 9A.
(còn nữa)
|