HÀNH TRÌNH TÌM NGUỒN CỘI NHỮNG BÀI THƠ
CỦA N. GUMILIEV VIẾT VỀ VIỆT NAM
Trong tập thơ “
Toà nhà bằng sứ” (Фарфоровый павильон) in năm 1918 của nhà thơ Nga N. Gumiliev, phần “Đông Dương” có 5 bài thơ:
Annam, Các cô gái, Đồng dao, Nước Lào và Những cô gái Khạ. Hai bài thơ sau chắc chắn viết về đề tài Lào, những bài còn lại có vẻ như đều viết về Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã vượt qua nhiều trở ngại và cũng đã thu được một số kết quả bước đầu.
1. NHỮNG BÀI THƠ VIẾT VỀ ĐÔNG DƯƠNG CỦA N. GUMILIEV
Trong 5 bài thơ kể trên của N. Gumiliev, bài “Annam” là bài viết về chủ đề Việt Nam dễ nhận biết nhất. Bài này đã được nhà thơ Hồng Thanh Quang chọn dịch:
An Nam
Vầng trăng lơ lửng treo
Giữa khung trời vô tận
Gió quanh quẩn rặng tre
Hương thơm tràn mát đậm
Cả gia đình bằng an
Những người lớn uống trà
Đọc thơ ngoài vườn biếc
Đàn trẻ đùa trong nhà
Hồn nhiên và ríu rít
Tiếng khóc nào oa oa
Cảnh đời hoan lạc thế
Nào có nghĩa gì đâu
Những bạc tiền, danh giá
Nếu ta biết đời sau
Luôn hậu sinh khả úy
(Hồng Thanh Quang dịch)
Vấn đề còn lại là liệu 2 bài “Các cô gái” và “Đồng dao” cũng viết về Việt Nam chăng?
Trong kho tàng thi ca Nga nói riêng, thi ca Âu châu nói chung, vào những năm đầu thế kỷ 20 trở về trước hầu như chưa thấy những bài thơ viết về đề tài Việt Nam. Do đó, nếu điều nêu trên là đúng thì sẽ là một trường hợp hiếm hoi, đáng quan tâm.
Với những tư liệu hiện biết thì nhà văn Nga đầu tiên có mặt tại Việt Nam là V. V. Krextôpxki. Ông đến Sài Gòn năm 1880 và có viết một ký sự về thành phổ Viễn Đông này. Con gái ông là nữ văn sỹ M.V. Krextôpxkaia, người đã cùng nữ văn sỹ Nga khác là T.L. Sepkina-Kupernhic có mặt ở Alger vào mùa xuân năm 1902. Tại đó họ có gặp gỡ, đàm đạo rồi trở thành bạn của vua Hàm Nghi. Trong cuốn du ký nhan đề “Những bức thư từ phương xa” (1903-1913), T.L. Sepkina-Kupernhic đã viết về những chuyện kỳ lạ ở nước ngoài, trong đó có thiên ký sự “Hoàng tử Lý Tsong” với nguyên mẫu là vua Hàm Nghi. Ngày đó, người ta quen gọi vị vua Việt Nam bị lưu đày ở Algeri là Hoàng tử Annam (Prince d’Annam).
N. Gumiliev là một đại diện xuất sắc của Thế kỷ bạc trong nền thi ca Nga. Ông là người chồng đầu tiên của Anna Akhmatova - người được mệnh danh là Nữ hoàng thi ca Nga. Vì thế những tác phẩm kể trên của ông càng được quan tâm. Và việc trước tiên, chúng tôi cần tìm hiểu là liệu trong cuộc đời chinh chiến và thám hiểm của mình, N. Gumiliev có ghé qua mảnh đất Đông Dương hay không? Câu hỏi này đã nhanh chóng có lời giải đáp: N. Gumiliev chưa hề đặt chân tới Đông Dương, nhưng vào năm 1917, trước khi tập thơ “Lâu đài bằng sứ” ra đời, ông đã có mặt tại Pháp. Chắc chắn những bài thơ về Đông Dương của ông có liên quan đến những thư liệu mà ông được đọc trong thời gian sống ở Pháp này.
Trước hết, để truy tìm nguồn gốc các bài thơ, cần tạm dịch chúng sang tiếng Việt. Về bài “Annam”, đã có bản dịch của Hồng Thanh Quang kể trên. Hai bài tiếp theo là:
Девушки
Нравятся девушкам рупии
С изображением птицы,
Они покидают родителей,
Чтобы идти за французами.
Tạm dịch :
Các cô gái
Các nàng mê những đồng bạc
Trên mặt khắc hình chim bay,
Nên đành rời xa bố mẹ,
Bỏ nhà theo mấy ông Tây.
Детская песенка
Что это так красен рот у жабы,
Не жевала ль эта жаба бетель?
Пусть скорей приходит та, что хочет
Моего отца женой стать милой!
Мой отец ее приветно встретит,
Рисом угостит и не ударит,
Только мать моя глаза ей вырвет,
Вырвет внутренности из брюха.
Tạm dịch:
Đồng dao
Nàng cóc tô môi đỏ thắm
Chắc vừa bỏm bẻm nhai trầu?
Nếu muốn về với bố tớ
Làm vợ thảo hiền, về mau!
Bố tớ sẽ đón thiện tình,
Nuôi ăn và không đánh đập,
Nhưng mẹ tớ không vậy đâu:
Sẵn lòng móc mắt, rút ruột...
Một người say mê văn học, ông NCT từ Tp. Hồ Chí Minh, khi tham gia diễn đàn của trang WEB
Tôi yêu nước Nga (Nuocnga.net) đã phát hiện ra một bài ca dao Việt Nam có nội dung gần với bài 2 trong chùm thơ “Đông Dương” của N. Gumiliev, bài “Các cô gái”:
Ham chi đồng bạc con cò
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa
Ông NCT cũng tìm thấy tư liệu cho biết, ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam Kỳ, thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) đã ký quyết định xác định tính hợp pháp của việc lưu hành đồng bạc Mehico (đồng Mexicana), trên bề mặt có hình con chim ó mà dân ta quen gọi là “đồng bạc con cò”. Rất dễ nhận ra tính tương đồng về nội dung của bài ca dao Việt và bài thơ in trong cuốn thơ của N. Gumiliev.
Với linh cảm của mình ông NCT tin bài thứ ba trong chùm thơ của N. Gimiliev cũng có nguồn gốc ca dao Việt Nam. Ông đã dày công tìm kiếm trong kho tàng ca dao Việt Nam, đồng thời cũng tìm những thư liệu tiếng Pháp mà theo ông có khả năng N. Gumiliev đã từng đọc để rồi « sáng tạo » ra các bài thơ bằng tiếng Nga. Rồi ông tìm được bài ca dao sau:
Cái cò trắng bạch như vôi,
Có về lấy lẽ chú tôi thì về!
Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê,
Thím tôi móc ruột, lộn mề, ăn gan.
Về ý tứ, có thể thấy giữa bài “Đồng dao” của N. Gumiliev và bài ca dao “Cái cò trắng bạch như vôi” kể trên có những nét tương đồng. Nhưng từ “cái cò” trắng đẹp trong ca dao Việt đã trở thành “con cóc” xấu xí trong bài thơ Nga. Xét về góc độ sáng tạo để cho ra đời một bài thơ khác, trong ngôn ngữ khác, thì điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, cũng cần tìm hiểu thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Ca dao thuộc thể loại văn học dân gian, nên mỗi bài có thể có nhiều dị bản. Liệu có dị bản nào nói về con cóc chứ không phải con cò? Sau một thời gian tìm kiếm chúng tôi đã tìm được bài:
Cái cóc ăn trầu đỏ môi
Có ai làm lẽ chồng tôi thì làm.
Bài này chỉ có 2 câu, câu sau không ăn nhập mấy, nhưng câu đầu thì khá tương đồng với câu trong bài thơ tiếng Nga. Nếu tổng hợp lại thành một bài như sau thì sẽ tương hợp với bài “Đồng dao” của N. Gumiliev:
Cái cóc ăn trầu đỏ môi
Có về lấy lẽ bố tôi thì về
Bố tôi chẳng đánh, chẳng chê
Mẹ tôi móc mắt, lộn mề, ăn gan.
Sau một thời gian tìm kiếm khó khăn nữa, ông NCT lại tìm ra được một tác phẩm bằng tiếng Pháp, cuốn
“Les chants et les traditions populaires des Annamites” (Những bài hát và ca dao của người Annam), tác giả Gustave-Emile Dumoutier (Nhà Xuất bản E. Leroux, Paris, 1890, 215 p.).
G-E. Dumoutier sinh ở Courpalay, gần Coulommiers (Seine-et-Marne) ngày 3-6-1850, và mất ở Đồ Sơn (Bắc Việt Nam) ngày 2-8-1904. Thoạt tiên ông theo học về Nhân loại học thời Tiền sử, sau này với tư cách học viên dự thính, ông đã học trong ba năm về ngôn ngữ và lịch sử Trung Hoa tại trường Ngôn ngữ Đông Phương.
Tháng giêng năm 1886, ông tháp tùng Toàn quyền Paul Bert tới Bắc Kỳ và làm thông ngôn tiếng Việt và tiếng Hoa cho Phủ Toàn Quyền. Tại đây ông được giao nhiệm vụ tổ chức Nha Học Chính. Là một người hết sức năng động, tháo vát, một năm sau ngày tới Việt Nam ông đã tổ chức được một trường Thông Ngôn, chín trường Tiểu học cho nam sinh, và bốn trường Tiểu học cho nữ sinh. Sau đó ông được giao chức Giám đốc Nha học chính Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Ông là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó có một số sách rất giá trị như:
- Lễ Tang của người Việt Nam
(Le rituel Funéraire des Annamites)
- Các ngôi chùa ở Hà Nội
(Les pagodes de Hanoi)
- Tượng phật lớn ở Hà Nội: Nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ học và văn khắc tại chùa Trấn Vũ
(Le grand-Bouddha de Hanoi : etude historique, archeologique et epigraphique sur la pagode de Tran-Vu)
- Tiểu luận về người Bắc Kỳ
(Essai sur les Tonkinois)
- Đền thờ Hai Bà
(Le temple des deux Dames) v.v…
Ngoài ra ông còn có trên 50 bài khảo cứu đăng trong các báo thời đó. Ông quan tâm nhiều tới lĩnh vực tôn giáo (Phật giáo) và lĩnh vực tâm linh khi viết những bài nghiên cứu thật tỉ mỉ về các loại bùa phép, về các thầy phù thủy, thầy pháp v.v…
2. SỰ LIÊN QUAN GIỮA CUỐN SÁCH CỦA G. DUMOUTIER VỚI CẤC BÀI THƠ CỦA N. GUMILIEV VÀ NHỮNG BÀI DÂN CA, CA DAO VIỆT NAM
Cuốn sách của G. Dumoutier đã ghi lại nhiều bài ca dao, dân ca Việt Nam mà ông đã dày công sưu tập và dịch ra tiếng Pháp, trong đó có 3 bài sau đây gợi cho chúng ta sự liên tưởng tới 3 bài thơ của N. Gumiliev in trong tập thơ “Lâu đài bằng sứ”:
1) Annam
Le Ciel est immense et pur,
La lune répand ses clartés,
Les bammous se balancent sous la brise,
L’air est fraig et parfumé:
La famille est heureuse et joyeuse,
Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin
Buvant du thé, fredonnant des vers.
La maison est remplie d’un bruit de voix:
Ce sont les enfants qui étudient
Et le dernier né qui appelle sa nourrice.
Ce lui qui peut ainsi vivre en famille
A le bonheur parfait sur la terre;
Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui.
Sa vie s’écoule doucement,
En songeant que ses enfants lui survivront.
Аннам
Месяц стоит посредине
Дивно-огромного неба,
Ветер в бамбуковой чаще,
Благоухающий воздух,
Благословенна семья.
Старшие в роще за чаем,
Пьют и стихи повторяют,
Из дому слышно гуденье,
Там занимаются дети,
Новорожденный кричит.
Тот, кто живет этой жизнью,
Полное знает блаженство.
Что ему деньги и слава,
Если он верит, что детям
Должно его пережить?
2) « Les filles »
Les filles aiment les piastres
A figure d’oiseau,
Elles quittent leurs parents
Pour suivre les français.
Девушки
Нравятся девушкам рупии
С изображением птицы,
Они покидают родителей,
Чтобы идти за французами.
3) « Le crapeau a les lèvres rouges »
Le crapeau a les lèvres rouges,
C’est que le crapaud a mâché du bétel.
Qu’elle vienne celle qui veut épouser mon père,
Mon père l’accueillera doucement
Avec de belles paroles et sans la frapper,
Mais ma mère lui crèvera les yeux
Et lui sortira les entrailles du ventre.
Детская песенка
Что это так красен рот у жабы,
Не жевала ль эта жаба бетель?
Пусть скорей приходит та, что хочет
Моего отца женой стать милой!
Мой отец ее приветно встретит,
Рисом угостит и не ударит,
Только мать моя глаза ей вырвет,
Вырвет внутренности из брюха.
Sau khi đối sánh chi tiết các văn bản, chúng tôi nhận thấy cả 3 bài thơ của N. Gumiliev là những bản dịch chân của 3 bài thơ trong cuốn sách tiếng Pháp của G. Dumoutier. Như phân tích ở phần trên, 2 trong số 3 bài thơ ấy có xuất xứ từ ca dao Việt Nam. Điều băn khoăn của chúng tôi là bài đầu tiên (Annam), mà chúng tôi đã tạm dịch lại dưới đây, không hề có dáng vẻ của một bài ca dao. Khi dịch ra tiếng Việt, nó có hình thức và nội dung như một bài “thơ mới” mà thời kỳ đó ở Việt Nam chưa xuất hiện:
Annam
Vầng trăng treo chính giữa
Khung trời rộng khác thường,
Gió lay lũy tre làng,
Khí trời thơm mát lạ,
Một gia đình yên ả.
Người lớn, dưới tán lá,
Uống trà và ngâm thơ,
Từ trong nhà vọng ra
Giọng ê a con trẻ
Đang đọc Tam Tự Kinh,
Tiếng khóc trẻ sơ sinh…
Ai sống cuộc đời đó
Sẽ mãn nguyện hoàn toàn.
Những danh vọng, bạc vàng
Cần chi, khi họ hiểu
Lũ cháu con có hiếu
Sẽ sống lâu hơn mình?
Một số người suy đoán, phải chăng G. Dumoutier đã dịch nó từ lời một bài hát dân ca Việt Nam mà ông từng được nghe. Còn TS. ngữ văn Trần Thu Dung từ Paris lại cho rằng, tìm lại lời một bài ca cổ kiểu ca trù, hát xẩm là rất khó. Với những nghệ nhân tài năng, có khi chỉ ra đề là họ có thể chuyển thành lời hát xẩm, ca trù. Theo chị, từ bài “Annam” có thể biên soạn ra lời hát xẩm. Trong khi chưa tìm được lời bài hát tiếng Việt, chúng tôi tạm đưa ra phương án lời một bài hát xẩm mà TS. Trần Thu Dung đã thử biên soạn như sau :
Annam
Xanh xanh, rộng rộng trời xanh,
Lung lung linh linh trăng tỏa sáng
Gió đùa đùa ngọn tre.
Trời se se lạnh lạnh
Hương ngát ngát thơm thơm
Thầy me ngồi nhấm nhấm chén trà ngân nga
Trẻ nhỏ học bài ê a
Thằng cu tí đòi u ới à.
Hạnh phúc trên thế gian này
Êm êm cuộc sống trôi trôi
Vui vui, sống giữa đàn con
Vui vui, thọ thọ với đàn con…
Với việc phát hiện ra cuốn sách “Les chants et les traditions populaires des Annamites” của tác giả G. Dumoutier, chúng tôi thấy xuất xứ của các bài thơ viết về đề tài Việt Nam trong tập “Toà nhà bằng sứ” của nhà thơ N. Gumiliev đã sáng tỏ. Chúng đều được dịch từ những bài ca dao và dân ca Việt Nam mà G. Dumoutier đã sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trong cuốn sách kể trên. Với 2 bài “Các cô gái” và “Cái cóc ăn trầu đỏ môi” thì dường như đã tìm được những bài ca dao Việt Nam tương ứng. Riêng với bài “Annam”, việc dịch ngược lại thành lời một bài hát xẩm chưa thể được coi là hoàn thiện, mới chỉ là một gợi ý nhỏ. Hy vọng trong tương lai, với sự tìm tòi, nghiên cứu của rnhiều người, lời Việt gốc của bài hát đó cũng sẽ có cơ may tìm lại được.
VĂN LIỆU
1. G. Dumoutier. Les chants et les traditions populaires des Annamites. Maison d’édition E. Leroux, Paris, 1890, 215 p.
2. Nguyễn Ngọc Giao. Hàm Nghi nghệ sĩ, Giaodiem.online. 07-07-2008.
(
http://www.giaodiemonline.com/noidun...hp?newsid=2557)
3. Diễn đàn Nuocnga.net (
http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=1520&page=3)
4. Н.С. Гумилев. фарфоровый павильон. Издательство: Гиперборей, 1918 г. 80 стр.