View Single Post
  #9  
Cũ 11-05-2009, 15:02
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Tù binh chiến tranh trong các giai đoạn lịch sử

Thế chiến thứ hai.


Phe quân Trục đối xử với tù binh chiến tranh

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tù binh Nga trong trại tập trung của Đức

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
New Guinea, năm 1943, một tù binh Úc bị quân Nhật đem ra chặt đầu.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tù binh của Nga bị Đức bắt là tù binh.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những tù binh Úc và Hà Lan bị bắt giữ tại Tarsau, Thái Lan năm 1943.


Danh sách những người tù binh bị chết trong cuộc chiến này, được ước lượng chung là vào khoảng từ 6 đến 10 triệu người. Đức và Ý phải đối xử với tù binh của Anh, Pháp, Mỹ và các nước Đồng minh phương Tây theo đúng như hiệp định Geneva vào năm 1929, do các nước này đã cùng nhau ký cam kết thực hiện. HIệp định này cũng đáng chú ý rằng, điểm đáng chú ý nhất trong trong hiệp định này còn được áp dụng cho tất cả các tù binh người Do Thái thuộc lực lượng binh sĩ Anh, những người này cũng cần phải được đối xử công bằng như mọi tù binh khác của Anh, và không được áp dụng giết người theo như các chính sách Giải pháp Cuối cùng của Đức, nó cũng có hiệu lực đối với hầu như toàn những người Do Thái khác nếu như rơi vào tay phát xít. (Một ví dụ, thiếu tá Yitzhak Ben-Aharon, sau này là một thành viên công đoàn và chính trị lỗi lạc của Israel – ông ta bị Đức bắt giữ tại Hy Lạp vào năm 1941 và đã trải qua 4 năm giam cầm trong nhà tù tương đối dễ chịu).

Nhưng Đức quốc xã lại không áp dụng những chính sách đó, đối với những tù binh không thuộc phương Tây, ví dụ như tù binh Xô Viết, họ phải trải qua những điều kiện rất khắc nghiệy và tàn nhẫn, họ bị chết với một số lượng rất lớn trong khi đang bị giam giữ. Đế quốc Nhật cũng không đối xử với các tù nhân chiến tranh theo Hiệp định Geneva. Hơn nữa, chúng lại tuân theo một chỉ thị của Nhật hoàng Hirohito đã phê chuẩn vào ngày 5 tháng 8 năm 1937, để những sự ràng buộc của các Hiệp định Hague (1899 và 1907) đã bị hoàn toàn dỡ bỏ, và chúng đã áp dụng chỉ thị đó lên các tù nhân Trung Quốc.

Trong các trại tập trung của Đức, khi đó những người lính có cấp bậc thấp được đưa đi lao động, còn các sĩ quan cao cấp (ví dụ như ở Colditz Castle) thì không phải làm việc. Những ai oán chính yếu của những tù binh người Anh, Khối thịnh vượng chung Anh quốc, Mỹ và Pháp trong các trại tập chung của Đức – đặc biệt nhất là trong hai năm cuối cùng của cuộc chiến tranh – là khẩu phần ăn được cung cấp hàng ngày, một định mệnh chung của người dân và binh lính Đức cũng phải chịu đau khổ, do tình trạng phe quốc xã bị vây hãm liên tục. May mắn cho các tù binh là, thực phẩm được đóng hàng và chuyển đến cho họ do Hội Chữ Thập Đỏ bổ xung cho các khẩu phần ăn hàng ngày, cho đến vài tháng cuối cùng, khi các cuộc oanh tạc của quân đồng minh dữ dội nổ ra, và đã gây cản trở việc cung cấp thực phẩm đến được các trại tập trung. Một điều thậm tệ chính nữa đó là, sự đối xử rất khắc nghiệt đối với tù binh của Đức, trong khi quân phát xít đang tổ chức những cuộc hành quân cấp tốc vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Chúng cố gắng chuyển tất cả các tù binh cách ra xa đường hành quân của các lực lượng quân Đồng minh.

Trái lại, quân Đức đối xử với các binh sĩ Hồng quân Liên Xô bị bắt làm tù binh rất cẩu thả và có chủ tâm chuẩn bị rất tàn bạo. Tám tháng đầu trong chiến dịch của Đức ở mặt trận phía Đông, thì rất nhiều tồi tệ, có đến 2.4 triệu trong tổng số 3.1 triệu tù binh bị kiệt sức. Các tù binh Xô Viết bị giam giữ trong những tình trạng hà khắc đó, đã làm cho hàng trăm ngàn người bị chết do đói và bị bệnh tật. Hầu hết các tù binh còn bị cưỡng bức đi lao động khổ sai trong tình trạng kiệt sức, rồi sau đó bị chết. Một sự biện hộ cùn cho chính sách này mà Đức đã đưa ra, đó là Liên Xô không ký kết vào hiệp định Geneva. Vấn đề này là không thể bào chữa về phương diện pháp lý, vì theo như điều 82 trong hiệp định Geneva (1929) là, tất cả các quốc gia đã ký kết trong hiệp định, nếu bắt giữ tù binh của các quốc gia đã ký kết cũng như không ký kết, thì tất cả những tù binh này đều có quyền lợi theo như hiệp định đã đề ra. Sử gia Antony James Beevor đã chỉ ra rằng, khoảng một tháng sau khi Đức tiến hành cuộc xâm lược vào năm 1941, Liên Xô đã đưa ra đề nghị tham gia vào các hiệp định Hague. Vấn đề này đã không được chính quyền thuộc Đế chế thứ ba đáp lại. Ngược lại, Nikolai Tolstoy, cũng là một sử gia người Anh lại tranh luận rằng, chính phủ Đức và hội Chữ thập Đỏ quốc tế đã có nhiều nỗ lực để chỉnh sửa lại điều lệ đối xử lẫn nhau về vấn đề tù binh cho đến tận đầu năm 1942, nhưng vẫn không thấy phía Liên Xô trả lời.

Theo một số nguồn tin, vào giữa những năm 1941 và 1945, quân Trục đã bắt giữ khoảng 5.7 triệu tù nhân Xô Viết. Khoảng 1 triệu người trong số họ đã được phóng thích ngay trong chiến tranh, tuy tình trạng của họ có được thay đổi, nhưng vẫn chịu sự kiểm soát của Đức quốc xã. Khoảng 500.000 người khác, thì tự trốn thoát hoặc được Hồng quân giải phóng. Khoảng 930.000 nữa thì được tìm thấy còn sống sót trong các trại tập trung sau chiến tranh. Còn lại 3.3 triệu tù nhân Xô Viết (chiếm 57.5% trong tổng số những người bị bắt giữ) thì bị chết trong khi họ đang bị giam cầm. Theo như tính toán của nhà sử học quân sự người Nga, tướng G. Krivoshhev, thì có 4.6 triệu tù nhân Xô Viết bị quân trục bắt giữ, trong số họ thì có 1.8 triệu người được tìm thấy còn sống sót trong các trại tập trung sau chiến tranh, có 318.770 người được quân Trục phóng thích ngay trong chiến tranh, và ngay sau đó họ lại gia nhập vào hàng ngũ của quân đội Liên Xô . Trong khi đó, thì có 8348 tù binh của Đồng minh phương Tây (Anh, Mỹ, và Canada) bị chết trong các trại tập trung của Đức trong các năm từ 1939 – 1945 (35% trong tổng số 232.000 người bị bắt giữ).

Vào ngày 11 tháng 2 năm 1945, tại phiên kết thúc của hội nghị Yalta, Mỹ và Anh đã ký kết với Liên Xô một bản thỏa thuận hồi hương. Thỏa thuận này nêu rõ, bắt buộc đưa toàn bộ những người Nga (Chiến dịch Keelhaul) hồi hương mà không cần biết họ có mong muốn hay không. Các chiến dịch hồi hương này được tiến hành trong các năm 1945-1947. Có rât nhiều tù binh và lao động khổ sai của Liên Xô từng bị chuyển đến nước Đức quốc xã, khi quay trở về họ bị sàng lọc ra là những kẻ phản bội và lại bị đưa vào các trại lao động bắt buộc.

Trong cuộc chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai và cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật Hoàng không ký kết vào hiệp định Geneva lần thứ ba vào năm 1929, chúng đã vi phạm nghiêm trọng vào những thỏa thuận quốc tế, bao gồm cả những điều khoản của các hiệp định Hague (năm 1899 và năm 1907), các điều khoản này đã nêu rõ các vấn đề bảo vệ tù nhân chiến tranh.

Các tù nhân của trung Quốc, Mỹ, Úc, Anh, Canada, Hà Lan, New Zealand và Philippines bị quân Nhật bắt giữ đều bị giết chết, đánh đập tàn nhẫn, bị trừng phạt dã man, bị đối sử tàn bạo, bị đưa đi lao động khổ sai, bị đưa ra làm thí nghiệm y khoa, không cho ăn uống, và điều trị bệnh tật thì quá tồi tệ. Chúng không cho Hội Chữ thập Đỏ tiếp cận với các tù binh. Các tù binh thì không thể chạy trốn được bởi vì tạng người châu Âu thì không thể hòa lẫn và ẩn náu được trong xã hội châu Á.

Theo những phát hiện của tòa án Tokyo, tỉ lệ những tù nhân phương Tây bị chết chiếm 27.1% (tù binh Mỹ bị chết chiếm tỉ lệ 37%), cao gấp 7 lần so với những tù nhân trong tay Đức và Ý. Tỷ lệ tù nhân bị chết của Trung Quốc Thì rất lớn. Do vậy, trong khi có đến 37.583 tù binh của Anh, 28.500 tù binh của Hà Lan và 14.473 tù binh của Mỹ được giải thoát sau khi quân Nhật đầu hàng, thì chỉ có 56 tù binh của Trung Quốc là còn sống sót.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
BelayaZima (11-05-2009), Gấu Misa (11-05-2009), rung_bach_duong (11-05-2009), Tanhia (27-05-2009)