Tuy không được phong độ như hai hội Khoa học và Doanh nghiệp, nhưng do tính đặc thù, nên Hội văn bút rất được Sứ quán và các Trung tâm Thương mại lúc bấy giờ quan tâm. Đại hội lần thứ nhất tổ chức tại Hội trường Lớn của Sứ quán vào ngày18-8-1994, cờ mở, trống giong, nhiếp ảnh, truyền hình tíu tít; có ăn mặn, uống nồng, có ca nhạc sống động. Hội dược ưu ái như con gái mới về nhà chồng, được các đại biểu dành cho nhiều điều hứa hẹn về một sự giúp đỡ tài lực và mọi nhẽ cần thiết để duy trì và phát triển. Lúc này tên khai sinh của Hội được thống nhất là “Hội những người hoạt động Văn học và Nghệ thuật ở Liên bang Nga” gọi ngắn đi bằng ngữ ngôn truyền khẩu là Hội Văn học Nghệ thuật . Hội tập hợp những người sáng tác, phê bình văn học, dịch thuật, những người làm hội hoạ, điêu khắc, âm nhạc ...trên cơ sở tự nguyện, tạm thời chưa căn cứ vào tác phẩm được công bố, trình độ chuyên ngành. Lực lương hội viên ghi danh xấp xỉ bảy chục người, bằng tới một phần sáu hội viên Hội nhà văn Việt nam ở thời điểm 2005, một con số đáng nể. Nhưng số tham dự Đại hội chỉ có 37 hội viên. Lúc này, trên tạp chí “Người bạn dường” của Hội mới cho ra Dự thảo Điều lệ chứ chưa có Điều lệ chính thức. Về nguyên tắc, một tổ chức hội xã hội hay nghề nghiệp được thành lập ở nước sở tại, muốn đi vào hoạt động công khai phải thực hiện theo luật Nga là phải có Điều lệ ( UXTAV) đăng kí ở cơ quan tư pháp. Phải ba năm sau, năm 1997, mất khá nhiều công của, Hội mới hoàn tất thủ tục pháp lý, có Điều lệ, có con dấu, có blank. Còn số điện thoại liên lạc, số Fax, địa chỉ Văn phòng thì dùng nơi tá túc của cá nhân đề vào. Rất nhiều lần, tôi nhận được điện thoại của các bạn thơ, thậm chí là của một vài tổ chức xã hội Nga gọi đến hỏi Văn phòng Hội. Tôi trịnh trọng cho họ biết rằng, đây là số điện thoại nhà riêng, nhưng trong thời kỳ quá độ tiến tới giai đoạn offic thì nó là Văn phòng thật, chứ không phải văn phòng ảo!
Và thời gian trôi qua, suốt hơn một thập kỷ, nói bay bướm hơn là gối đầu qua hai thế kỷ, chưa bao giờ Hội có lấy một góc phòng, một chiếc ghế, một chiếc bàn riêng; chưa từng sở hữu một thứ vật dụng đáng giá như một máy fax, một bộ vi tính. Thế mà vẫn như một đội du kích văn chương, Hội vẫn hoạt động, vẫn sòn sòn cho ra tác phẩm như một chị nông dân mắn đẻ!
Dịp tôi về nước năm 99, Nguyễn Đình Chiến trao đổi với tôi là “ cố dành thời gian đến thăm Hội Nhà văn Việt nam, phải gặp được một vị nào trong Ban thường vụ thì tốt để nếu có thể thì xin phép họ coi ta là một chi hội…” Tôi làm vượt năng suất, đến thăm anh em đồng nghiệp trong nước ba lần, gặp được nhà thơ giữ quyền trượng của hội Nhà văn. Tôi được đón tiếp long trọng quá mức mình được hưởng, nhưng chẳng ai gật đầu khi tôi đưa ra sự ủy nhiệm của Nguyễn Đình Chiến. Thôi đành coi ta là khu tự trị vùng xa vậy!
Kỳ Đại hội lân thứ II diễn ra sau cuộc khủng hoảng kinh tế ở Nga một năm. Cuộc khủng hoảng đó đã tác động một cách toàn diện và sâu sắc vào nước Nga đương đại đã đành, mà còn gây ra bao sự đảo lộn trong cuộc sống của cộng đồng người Việt. Mặc dù chẳng dính dáng gì đến cơm áo, gạo tiền, hay kinh doanh, buôn bán, nhưng Hội cũng gián tiếp chịu tác động. Khi mà dân tình chỉ tập trung phần sức cho cuộc mưu sinh thì ít ai còn nhiều tâm lực dành cho thứ của xa xỉ văn chương, nghệ thuật. Theo điều lệ, lẽ ra Hội đã phải tổ chức Đại hội vào năm 97, thay vì năm 1999, muộn đi gần một nhiệm kì. Một mặt là vì kinh phí không xoay ra; rồi người về, kẻ ở; mọi thứ đều xáo trộn.
May mà các vị tham gia Chấp hành Hội không một xu lương, không tiêu chuẩn ưu tiên, đến khâu oai cũng không có nốt, chứ mà có chút quyền hành, chút lợi lộc mông gà, má lợn, thì không ai dám đảm bảo là những pha tung chưởng võ lâm hiện đại ở hậu trường và chính trường là không thể xảy ra.
Đại hội lần II tiến hành vào ngày 9-6-1999, xuôi bè, mát mái với 31 người tham dự. Lực lượng, đội ngũ ngày nào còn hùng hậu, giờ đây đã thưa thớt đi nhiều.
Phần đông các cây bút cao niên của Hội lần lượt về nước nhận công tác và tư tác.
Ngoảnh đi, ngoảnh lại, may vẫn còn lại một số anh em có năng lực sáng tác, phê bình, dịch thuật, vì lý do này, lý do khác còn nán ở lại chưa về, nên Hội cũng đỡ phần trống vắng.
Sau giai đọan khủng hoảng kinh tế Nga, cộng đồng người Việt lại phải tiếp tục đứng trước nhiều thử thách gay go. Nhiếu chủ lớn vỡ nợ, tiền mất giá, hàng trăm người lấy hàng từ các thành phố xa không còn khả năng thanh toán cho chủ hàng ở Maxcơva, bỏ của chạy lấy người, gây nên tình trạng an ninh hỗn độn. Riêng anh em làm văn nghệ vốn đã khó khăn, nay lại khó khăn lại gấp bội phần. Đa số hội viên không có việc kiếm ra tiền một cách ổn định, có vị thì làm hàng khô quanh quẩn với miến măng, bánh rán và nước mắm; có vị thì làm dịch vụ điện thoại ôm ống nói suốt ngày thu nhập chẳng là bao; có vị thì làm văn phòng ở một ốp nào đó lương bổng ba cọc, ba đồng; vài vị cung điền trạch khá có kiôt hoặc quầy mua bán ở các ốp, các chợ có đồng ra, đồng vào, nhưng nhìn chung thì trôi nổi, loai xoai giữa vòng xoáy thương trường .
Có lần ra sân bay, tiện đường tôi ghé thăm một bạn thơ nghiệp dư ở tận ốp Zin cũ. Vợ chồng anh thuê một phòng, ở chung với một bà công nhân Nga đã về hưu với giá rất hữu nghị. Vợ anh nhận làm ôsin cho một chủ bán hàng da ở ốp Tôgi, trừ ăn uống tại gia ra, mỗi tháng còn được bỏ túi hai vé, mỗi tuần chủ cho nghỉ một ngày; còn anh bán hàng thuê ở chợ Asean, công xá mười đô một ngày, ba chục ngày vị chi là ba vé. Anh nghiêm trang bảo tôi là: cả nhà em đều làm kinh tế anh ạ! Không đợi tôi hỏi, anh giải thích luôn là “em cố gắng tập thể dục, không phí phạm sức khoẻ, cố không ốm đau, đỡ được tiền thuốc. Vợ em chỉ đi phương tiện công cộng, không biết đến tăcxi là gì, ăn uống thì cố chọn ma những thứ rẻ nhất mà no nhất. Em không dùng điện thoại di động, hạn chế tối đa những cuộc nói chuyện phải thanh toán tiền; còn thằng con đi học thì đã có suất ăn ở trường, mỗi buổi sáng gói cho nó một chút gì làm sẵn; ngay cả nước uống cũng đun sôi, để nguội cho vào chai, tiết kiệm đến mức tối đa, thế cả nhà chẳng làm kinh tế là gì !”. Anh nói chí phải, chẳng biết nên cười hay nên khóc, nhưng chua chát lắm, bởi vì một gia đình ba nhân khẩu như anh, ở cái đất này, tiền nhà, tiền giấy tờ, tiền đi lại, tiền ăn, tiền sinh hoạt, thuôc thang… mỗi tháng không lo được tối thiểu 8 vé là ra đường ngay lập tức!
Anh em làm văn nghệ, mỗi người một kiểu sống, sách vở nói một cách hàn lâm là cá tính, mà cá tính là thứ trời ban, làm sao mà sửa được. Anh Tôn Thất Triêm là một dạng chẳng giống ai. Trong khi người ta phù thịnh, thì anh lại phù suy. Hễ có ai gặp hoạn nạn, ai đau ốm, ai lỡ vận, sa cơ, là anh có mặt, dành những đồng tiền ít ỏi để bù đắp, cưu mang. Anh chẳng bao giờ tô vẽ, đánh bóng mình, chỉ sống lặng lẽ, kín đáo, chân thành với nụ cười hiếm hoi và lúc nào cũng như người có lỗi.
Hoàng Tân Hưng thì lúc nào cũng giống hệt người từ hành tinh khác đến . Sống giữa một thành phố xô bồ, náo động của châu Âu mà anh cứ như ở am mây. Đi kẻ hiệu, làm biển quảng cáo cho những doanh gia cũng không viết một dòng hợp đồng, vét tiền riêng của mình để thanh toán trước, đến khi xong việc, chìm cả chì , lẫn chài. Thằng bạn đồng môn là chủ ốp thuê anh làm, phủi tay, vòng vo xù nợ, đến mực vẽ cũng không chi ra cho anh. Anh hồi hương với hai bàn tay trắng, yếu gầy, tuổi tác. May mà trời còn thương đến, một người được anh vẽ chân dung, cho mượn một góc nhà ở Hà nội cư trú vô thời hạn, nếu không thì chẳng biết trôi dạt tận phương nào.
Ông em họ của tôi cũng đã từng xuất ngoại, nhưng chưa sang Nga bao giờ, khẳng định như đinh đóng cột là ông anh mình giàu có lắm, đứng vào hạng thứ nhì Matxcơva bởi vì được có lương của một công ty tiếng tăm, và thuờng thấy xuất hiện trên tivi và báo chí. Mà không chỉ ông ta đâu nhá, có cả một lô các ông, các bà ở nhà quê lúc gặp nào cũng ở tư thế chuẩn bị hỏi vay tiền. Các vị ấy đâu biết rằng, tôi cũng từng được dính vào bảng lương một công ty đấy, nhưng đứng ở vị trí áp chót, hàng tháng cố lo thì cũng chỉ đủ tiền đi lại, thuốc thang và điện thoại. Hai chục năm xuất ngoại mà khó tích cóp được lấy một đồng dính ví. Hồi năm 2001, nghe tin tôi nằm bẹp giường, mấy anh em hảo tâm, trong đó có Trưởng Thương vụ, Chủ tịch Xaliut 2, đã dặt ra vấn đề cứu trợ cho tôi, may mà tôi kịp từ chối, không thì tiếng tăm còn phải lưu đến đời chắt.
Kiếp làm văn chương ở cái đất nhà nhà ra chợ, người người ra chợ này mà không bị trải chiếu, cầm ống bơ đứng đường là mả tổ còn phát lắm.
Trong số gần trăm ngàn người Việt, nếu ai đó dày công làm một công trình điều tra thì kết quả cho thấy là phần lớn những người theo nghiệp văn nghệ chăc chắn là đứng đội sổ về thu nhập, chỉ nhỉnh hơn osin một tí.
Vào những năm đầu thiên niên kỷ mới, chống chèo để in dược một tập sách, ra được một số tạp chí, tổ chức được một đêm thơ ở Matxcơva thì phải nói như Cụ Nguyễn Du là” công trình kể xiết mấy mươi.” Trong nhiệm kỳ II, số anh em trở về quê cha đất tổ và dạt đi thành phố khác khá nhiều. Có không ít anh em đành ngậm ngùi lìa bỏ thơ phú, lao vào cuộc mưu sinh, không khí văn đàn rơi vào nốt lặng.
Đại hội lần III rút kinh nghiệm lần trước, những muốn tổ chức đúng thời hạn để khỏi tiếng eo xèo, nhưng rồi lại cũng chậm đi hơn 2 năm, vì những vấn đề còn rất nhiều vấn đề. Khu rừng thu văn nghệ vốn đã tiêu điều, nay lại tiếp tục thưa đi như như chợ cuối ngày. Những gương mặt quen thuộc ngày nào thường xuyên có mặt ở Matxcơva, nay đã nhận khẩu thường trú và nên ông, nên bà tại thủ đô Hà nội; vài anh em thì dạt đến Tiểu Nga - thành phố Kharkov với mục đích tìm đường kiếm sống. Hội chỉ còn lại một số thành viên cũ càng và một số hội viên mới được kết nạp, chưa kịp biết mặt, biết tên nhau.
Mặc dù trước đó, theo sáng kiến của một vị trong Ban Chấp hành, Chi hội Văn học được triển khai để tập hợp, củng cố đội ngũ, nhưng vốn liếng chỉ có thế, không thể huy động số đông sức người như gọi dân công hoả tuyến được. Để chuẩn bị cho đại hội này, Sứ quán và Ban công tác Cộng đồng đã dành khá nhiều thời gian và công sức bàn bạc, ủng hộ rất tích cực các chương trình và kế hoạch của Hội. Chưa kịp làm thủ tục về phía Nga, Ban trù bị đã soạn thảo và thông qua Điều lệ mới về phía Việt nam, chờ một thời điểm thích hợp sẽ đăng kí lại, trên cơ sở bổ sung Điều lệ cũ. Khá ưu ái với Hội, Sứ quán cho mượn Hội trường, trao cho một phong bì khiêm nhường, nhưng chu đáo; các TTTM kẻ ít, người nhiều, cũng góp thêm cho ít tài chính bổ sung vào bữa tiệc mặn. Đại diện các Hiệp hội tại Matxcơva và các đại biểu y tọa cho đến phút cuối cùng. Chương trình Đại hội khá phong phú, đề cương soạn thảo công phu, đặt ra rất nhiều kế hoạch, hiến kế nhiều biện pháp, nhưng đồng hành với nó là những khó khăn...
|