View Single Post
  #8  
Cũ 30-03-2009, 00:29
tuntin's Avatar
tuntin tuntin is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 55
Cảm ơn: 199
Được cảm ơn 184 lần trong 51 bài đăng
Default

Một vài suy nghĩ khi đọc và dịch bài thơ “Девушки” của Николай Степанович Гумилев.


1. Nguyên bản bài thơ:

Девушки

Нравятся девушкам рупии
С изображением птицы,
Они покидают родителей,
Чтобы идти за французами.

2. Để hiểu và dịch được bài thơ này, có một vài lưu ý như sau:

2.a. Về từ “рупия” ở câu thứ nhất:
“Rupee”, đồng tiền do công ty Đông Ấn của Anh sử dụng, xuất phát từ tiếng sanskrit, đầu tiên chỉ có nghĩa là đồng bạc, tiếng Pháp là “piastre”. (Рупия : англ. rupee, от санскр. слова rûpya – серебро…)
Nguồn: http://www.wikiznanie.ru/ru-wz/index...BF%D0%B8%D1%8F
Sau này mới thành tên đồng tiền không chỉ của Ấn độ mà còn của nhiều nước khác nhau.
Nguồn: http://dic.academic.ru/dic.nsf/dic_p...9F%D0%98%D0%AF
Vậy từ “рупия” trong câu thứ nhất của bài thơ chỉ có nghĩa thuần tuý là: “đồng bạc”
2.b. Về câu thứ hai “С изображением птицы”:
“С изображением птицы” có nghĩa là “ với hình tượng con chim”.
Thế “con chim” nào ở đây? Nó chính là con ó, nhưng dân gian vẫn quen gọi là con cò.

Trích:
Rồi ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam Kỳ, Thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) đã ký quyết định xác định tính hợp pháp để cho lưu hành đồng bạc Mexicana (Mễ Tây Cơ - Mê Hi Cô), mà dân gian thường gọi là “đồng bạc con cò”.

Bù lại sự thiếu hụt khối lượng tiền lưu hành, năm 1903, Ngân hàng Đông Dương đúc tại Paris 10 triệu 200 ngàn đồng Piastre de Commerce; đồng thời ngày 30/01/1903 chính phủ Pháp ra nghị định “cấm xuất cảng những đồng bạc thương mãi và những thoi bạc”. Và để tiếp tục củng cố chủ quyền Pháp tại Đông Dương, ngày 03/10/1905 lại có thêm nghị định nêu rõ “kể từ 01/01/1906, đồng Mexicana không còn giá trị pháp định”.
Nguồn: http://www.khoahoc.net/baivo/nguyena...cdongduong.htm

Trích:
Ngày 23/9/2004, tại Bảo tàng TP Hồ Chí Minh (65 Lý Tự Trọng, quận 1) đã khai mạc trưng bày Tiền Việt Nam và các nước với hơn 600 loại lưu hành trong vòng 500 năm qua. Trong đó có 120 loại tiền kim loại của các triều đại vua chúa Việt Nam đúc bằng đồng, chì, kẽm, sắt hình tròn và mỗi đồng có khoét một lỗ hình vuông ở giữa. Tại sao như vậy?
Đối với những tâm hồn nhiều hoài cảm, hình dáng đồng tiền xưa gợi nhớ biểu tượng "trời tròn" bọc ngoài và "đất vuông" ở trong. Song với người có đầu óc thực tế sẽ thấy ngay lợi ích thực tiễn của cái lỗ hổng vuông vức giữa đồng tiền là rất tiện cho việc luồn dây xâu hàng trăm, thậm chí hàng nghìn đồng như thế thành một chuỗi. Hoặc khoanh từng khoanh cất vào rương, tủ. Hoặc quấn quanh bụng để khi đi xa mua bán lên bến xuống thuyền dễ dàng. Riêng loại bằng vàng, bằng bạc (quý kim) đúc thành đỉnh (1 lượng), thành nén, hoặc thoi (10 - 20 lượng), thành khối (20 lượng đổ lên) nặng ngót trăm ký không chừng (vàng khối) dùng làm của, giấu sau vườn, chôn dưới đất, thỉnh thoảng người đời nay đào gặp, thì chẳng đục lỗ làm chi. Lắm khi loại kim ngân này được "chặt nhỏ" để chi trả hoặc làm đồ trang sức, đồng Mễ Tây Cơ du nhập vào Việt Nam theo chân lính Tây Ban Nha trong đội liên quân Pháp cũng vậy. Một đồng Mễ ăn 5 quan tiền ta vào năm 1863. Thời trước, theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu và Nguyễn Văn Cường, lương chính của lính tráng mỗi tháng (ngoài 28 - 30 ký gạo) chỉ lĩnh... 1 quan. Một quan ấy mua được nhiều thứ, dùng tiêu linh tinh khoảng 30 ngày. Xem thế đồng Mễ có giá (gấp 5 quan) và nặng nề so với các đồng khác.
Lúc không có đơn vị nhỏ thanh toán, người ta chẳng ngại gì mà không chặt đồng Mễ (vốn chứa 0,72 lạng bạc) ra nhiều miếng, gọi là "góc tư, góc tám". Nó khá thông dụng tại các thương cảng và nơi đô hội ở nước ta thời Pháp mới qua với tên gọi nôm na là Bạc phiên hoặc tiền con Ó, vì trên mặt có in hình con Ó.
Riết rồi, theo nhà văn Sơn Nam, con Ó được Việt Nam hóa thành con Cò quen thuộc .
Nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Dau-an-lic.../45123286/181/
2.c. Về từ “французы” ở câu thứ tư:
Ở Việt nam thời trước, người Pháp thường được gọi là người Phú lang sa, Pháp lang sa, Phú lang tây, Pháp lang tây…hoặc chỉ gọi tắt là Lang sa, Lang tây…

3. Sau khi phân tích như vậy, bài thơ trên có thể tạm dịch nghĩa như sau:

Các cô gái

Các cô gái thích những đồng bạc
Vẽ hình con cò.
Các cô rời bỏ cha mẹ
Để đi theo mấy ông Lang sa.

4. Bây giờ các bác so sánh bài thơ trên của Николай Степанович Гумилев, với câu ca dao của Việt nam nhé:

Tham chi đồng bạc con cò
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa.


5. Một vài suy nghĩ của Tuntin:

5.a. Theo trích dẫn tại mục 2.b. thì “kể từ 01/01/1906, đồng Mexicana không còn giá trị pháp định”, vậy là “đồng bạc con cò” đã kết thúc giá trị pháp định của nó từ năm 1906. Bài thơ “Các cô gái” thì in năm 1918. Rõ ràng là câu ca dao của Việt nam không phải dịch từ bài thơ của Nikolay Stepanovich Gumilyov mà chính là ngược lại.
5.b. Vậy ai là người đã cho Nikolay Stepanovich Gumilyov biết câu ca dao Việt nam này? Lý do gì mà ông lại đổi hẳn ý thơ đi như vậy? (Từ ý khuyên nhủ các chàng trai đừng tham tiền theo giặc sang ý “trách móc” các cô gái tham tiền theo mấy ông Lang sa?)...

Ý kiến của Tuntin là ý kiến cá nhân, nghĩ sao nói vậy, có gì không chính xác mong được các bác lượng thứ và cho thêm ý kiến, ngõ hầu sáng tỏ vấn đề.

Trân trọng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn tuntin cho bài viết trên:
@@@ (30-03-2009), Geobic (30-03-2009), hungmgmi (30-03-2009), Nina (30-03-2009), sad angel (07-01-2011), Trăng Quê (06-05-2009), USY (30-03-2009), weekdaysman (30-03-2009)