Súng ngắn Makarov PM / PMM / Izh-70 / Izh-71 Liên Xô – Nga

Mẫu súng ngắn đầu tiên, vào khoảng năm 1947.

Súng ngắn Makarov PM, sản phẩm được sản xuất đầu tiên (1949)

Makarov PM, loại súng tiêu chuẩn của quân đội Xô Viết. Sản phẩm năm 1971.

Súng ngắn Makarov PM, phiên bản dành cho "quan chức cao cấp Nga" được khắc chạm rất tinh vi, sản phẩm hiện hành.

Súng ngắn IJ70-17AS, một phiên bản chỉ để xuất khẩu mục đích thương mại của dòng súng ngắn Makarov PM, kích thước nòng súng 9x17 (.380ACP);

Súng ngắn IJ71H, một phiên bản chỉ xuất khẩu thương mại của dòng Makarov PMM, với hộp tiếp đạn 12 viên, cỡ nòng 9x17 (.380ACP)

Súng ngắn Makarov / Shigapov PMM, với hộp đạn 12 viên

Loại súng TKB-023 dùng thí nghiệm, một nguyên mẫu dựa trên thiết kế của Makarov PM (vào khoảng năm 1965)

Mặt cắt bản vẽ của súng Makarova (PM)
Cỡ nòng 9x18mm PM; 9x18mm đã cải tiến (PMM)
Thể loại: tự động lên cò.
Chiều dài tổng thể: 161mm (165mm PMM)
Trọng lượng rỗng (chưa có đạn): 730g (760g PMM)
Chiều dài nòng súng: 93,5 mm
Hộp đạn: 8 viên – PMM 12 viên
Hồng quân Liên Xô chiến đấu trong cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, họ sử dụng loại súng ngắn bán tự động Tokarev TT vả cả loại ổ quay Nagant M1895 đã lỗi thời. Mặc dù trên thực tế, có nhiều loại súng ngắn có hiệu lực hơn đã được thiết kế ngay trước và trong khi khi đang chiến tranh, nhưng Tokarev TT vẫn là một loại vũ khí chủ đạo. Trải qua kinh nghiệm thời chiến, bao gồm cả sự tiếp cận (đôi khi rất riêng tư) đối với các loại súng ngắn của Đức, đã dẫn đến sự thay đổi các tư tưởng về vai trò cần thiết chủ chốt của các loại súng ngắn quân sự dành cho quân đội Xô Viết. Một nhân tố khác, cũng đã đóng một vai trò quan trọng, trong sự phát triển của các nhu cầu mới cho thế hệ tiếp sau của súng ngắn quân sự, đó là khả năng xảy ra thế chiến thứ ba, với sự ném bom nguyên tử ồ ạt và những hoạt động chiến tranh có qui mô lớn khác; qua đó súng ngắn chỉ đóng một vai trò rất thứ yếu trong cả hai học thuyết chiến lược và chiến thuật của quân đội Xô Viết. Hơn nữa, loại súng ngắn Tokarev, mặc dù tương đối đơn giản và mạnh mẽ, nhưng xem ra có nhiều kiếm khuyết đáng kể, một số rất nghiêm trọng, ví dụ như thiếu tính an toàn. Do vậy, về sau Liên Xô đã đề ra những yêu cầu mới để chế tạo loại súng ngắn mới dành cho quân đội và cảnh sát.
Các loại súng ngắn mới được đệ trình phê duyệt gồm có ba cỡ nòng - 7.65x17SR Browning, 9x17 Browning, và một loại mới 9x18. Loại cuối cùng trong số này, đầu tiên được phát triển chỉ dành cho chiến tranh, và sau khi cuộc chiến kết thúc, nó được nhà thiết kế Syomin cải tiến lại. Nhìn bề ngoài, loại đạn này như được phỏng theo loại 9x18 Ultra của Đức mà đã được thiết kế vào giữa những 1930, để đạt được loại súng ngắn nạp đạn tự động bỏ túi có "hỏa lực mạnh nhất có thể chấp nhận được" thật đơn giản. Lý do then chốt để làm tăng đường kính nòng súng khi đã so sánh với loại đạn 9mm của phương Tây thì chưa được biết (Loại của Xô Viết 9x18 có đường kính đầu đạn là 9.2mm, trong khi đó hầu hết các loại đạn của phương Tây là 9mm có đường kính đầu đạn là 9.02mm; lưu ý rằng sử dụng loại đạn 9x18 Ultra cho bất kỳ khẩu súng Makarov nào cũng không an toàn.
Ngoài ra, trong khi đó quân đội Xô Viết đã tiến thêm về các kiểu thiết kế súng ngắn khác theo tiêu chuẩn của loại tự động lên cò.
Những sự thử nghiệm loại súng ngắn mới được bắt đầu vào năm 1947. Có rất nhiều thiết kế được đệ trình phê duyệt và được thử nghiệm, ví dụ như các loại súng ngắn do Baryshev, Rakov, Voevodin, Simonov, và Makarov thiết kế. Một số thiết kế đã trình duyệt chỉ đáp ứng được một trong những yêu cầu về cỡ nòng, một số khác, ví dụ như thiết kế của Makarov thì được hai, và một số ít mẫu thì đạt ba. Năm 1948, kết quả của những cuộc thử nghiệm được chọn ra loại súng ngắn Makarov 9x18, để sử dụng là một loại vũ khí bên sườn đời kế tiếp của các lực lượng vũ trang Xô Viết. Tuy nhiên, nó phải trải qua hơn ba năm để cải tiến lại thiết kế, trước khi chính thức được thông qua vào năm 1951 với tên hiệu “9mm Pistolet Makarova” hoặc súng ngắn PM.
Nhiều thập tiếp theo, súng ngắn Makarov dần được phát triển thêm, và người ta đã liên tục cố gắng sản xuất ra những khẩu súng ngắn mới với ít phế phẩm hơn và giá thành rẻ. Hầu hết sự nỗ lực đều tập trung vào chế tạo công nghệ, và những năm 80 rất nhiều bộ phận của súng vào lúc ban đầu chỉ được lắp ráp và gia công cơ khí bằng tay, đã được chuyển sang đổ khuôn chính xác, đó là những yêu cầu tối thiểu. Vào đầu những năm 60, người ta còn thử làm những khẩu súng PM có cơ cấu bằng hợp kim nhôm/titan hoặc bằng Polyme. Cơ cấu của súng bằng hợp kim nhẹ lại có giá thành quá đắt, nhưng loại súng ngắn có cơ cấu bằng polyme được phát triển tại Tula là loại TKB-023, đã hợp qui cách với mọi cuộc thử nghiệm với kết quả mỹ mãn. Mặc dù trên thực tế như vậy, loại súng này vẫn không được quân đội chấp nhận trong một thời gian dài (10-20 năm).
Vào những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20, đã có rất nhiều sự cố gắng để cải tiến một số thiếu sót của loaịi súng ngắn PM, nhất là khả năng hãm và tính sát thương thấp, cùng với ổ chứa đạn có sức chứa thấp. Đầu tiên, loại súng này được cải tiến về vỏ đạn, với loại loại đạn nhẹ hơn và nạp tuốc nổ mạnh hơn, đó là mẫu súng ngắn 9x18 PMM. Loại đạn nôạiđwcj phát triển với vận tốc thoát khỏi nòng súng là 430 mét trên giây, nhanh hơn so với 315 mét trên giây như phiên bản 9x18mm cũ. Pjiên bản súng ngắn có công suất mạnh của loại súng ngắn PM được cải tiến cùng với loại đạn mới, loại này được thiết kế lại với kiểu báng súng có kết cấu mảnh hơn để có thể chứa được hộp tiếp đạn dày hơn. Tay cầm của báng súng cũng được cải tiến thêm. Loại súng ngắn PMM được trang bị cho quân đội và những người thi hành luật pháp, và các lực lượng cảnh sát Nga cũng đã đặt hàng một số lượng lớn loại súng ngắn này. Đạn của loại súng ngắn 9x18 PMM không được phát với bất kỷ một tỉ lệ đáng kể nào, do sự nguy hiểm khi nạp đạn mới trên các khẩu súng cũ, vấn đề này có thể là lý do của sự hư hại cho các khẩu súng cũ.
http://world.guns.ru
Thay đổi nội dung bởi: nthach, 31-08-2010 thời gian gửi bài 12:23
|