Nguồn gốc máy tính ở Belarus
Là một viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Nga – George Pavlovich Lopato – đã có đóng góp rất to lớn trong lĩnh vực phát triển nền công nghệ máy tính ở Minsk. Lopato, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924 tại làng Ozershina thuộc vùng Gomel ở Belarus. Cha ông, là con của một người tá điền, đã tốt nghiệp học viện nông nghiệp Goretska vào năm 1916, ông từng phục vụ trong cuộc nội chiến Nga, và nguyên là một người lính trong đội kỵ binh Hồng quân thứ nhất. Sau chiến tranh, ông làm nhân viên giám định địa chính. Năm 1924, ông được nhận vào tu nghiệp tại trường đại học bách khoa Leningrad, và tốt nghiệp vào năm 1929. Sau đó, ông là kỹ sư trưởng ở công xưởng Moskva và sau này, ông là giảng viên học viện điện khí hóa và cơ khí hóa nông nghiệp Moskva.

Георгий Павлович Лопато

Вадим Яковлевич Пыхтин
George Lopato bắt đầu đi học tiểu học vào năm 1931. Vào mùa hè năm 1941, sau khi tốt nghiệp trung học, ông đã tham gia hỗ trợ xây dựng các tuyến công sự phòng thủ ở gần Moskva để bảo vệ các cuộc tấn công quân Đức xâm lược. Vào tháng 10 cùng năm, ông được tăng cường vào Hồng quân và trở thành một người lính thuộc tiểu đoàn 314 quân khu phòng không Moskva. Năm 1946, ông phục viên, và theo học tại khoa mạ điện – vật lý thuộc học viện năng lượng Moskva. Đến năm 1952, ông tốt nghiệp bằng mạ điện – cơ học. Sau đó, Lopato bắt đầu công tác tại viện nghiên cứu khoa học mạ điện – cơ khí của Gosplan (Gosplan – Госплан – ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô – ND) ở Moskva, tại đây ông chuyên thiết kế các thiết bị mạ điện – cơ học. Năm 1954, ông được cử đến công tác vài tháng tại phòng thí nghiệm máy và hệ thống điều khiển. Ở đây, dưới sự chỉ đạo của Matyuhin, Lopato đã bắt đầu tham gia vào các thiết kế phát triển dòng máy tính M-3
Lopato tham gia vào hiệu chỉnh dòng máy tính M-3 sau khi loại này đã được lắp ráp tại viện mạ điện – cơ học. Đến cuối năm 19557, chính phủ Liên Xô chuyển các chi tiết kỹ thuật của dòng máy tính M-3 sang các học viện khoa học của Hungary và Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc đã sử dụng các chi tiết này, và lắp ráp ra một nguyên mẫu của dòng máy tính M – 3 tại xí nghiệp điện thoại ở Bắc Kinh. Trong thời gian này, Lopato cũng được cử sang Trung Quốc để đưa chiếc máy tính này vào hoạt động. Đây là một công việc rất khó khăn, nhưng Lopato đã cố gắng giải quyết và thu được thành công mỹ mãn. Sau khi quay trở về Liên Xô, ông được mời và trở thành kỹ sư cao cấp tại ban xây dựng đặc biệt thuộc xưởng máy tính Minsk và ông bắt đầu làm việc ở đây vào tháng 4 năm 1959. Năm năm sau, ông được bổ nhiệm làm trưởng ban xây dựng đặc biệt, đến năm 1969 ông là giám đốc chi nhánh máy tính Minsk của NISEVT. Năm 1972, khi chi nhánh Minsk được đổi mới và lấy tên là viện nghiên cứu khoa học máy tính, Lopato lên làm giám đốc viện.
Dưới sự quản lý trong vòng 28 năm của Lopato, viện nghiên cứu đã thiết kế được 15 mẫu thế hệ thứ nhất và thứ hai của dòng máy tính Minsk; 11 mẫu trong số này được sản xuất hàng loạt và bốn mẫu còn lại là làm theo đơn đặt hàng đặc biệt. Viện nghiên cứu của Lopato còn cho ra đời 5 mẫu máy tính Sêri ES, một vài mẫu máy tính cá nhân, 6 tổ liên hợp máy tính đặc biệt, hàng loạt hệ thống điều khiển và phần mềm, cùng với hơn 50 loại thiết bị ngoại vi.

ЭВМ 5Э76Б (главный конструктор Н.Я. Матюхин)
Lopato nguyên là kỹ sư trưởng của dòng máy tính Minsk-1, hệ thống đa máy tính của các loại máy đồng nhất bao gồm Minsk-222, và hệ thống sử dụng kép Naroch, hệ thống này được kết hợp 12 chiếc máy tính ES và giao cho Schetmash để thiết các hệ thống phần mềm và phần cứng. Lopato cũng nguyên là phó tổng công trình sư cao cấp của hệ thống 70K1, và sau đó là tổng công trình sư của một số dòng máy tính vận chuyển cho quân sự.
Lopato nguyên là một trong những người sáng lập ra trường thiết kế máy tính Minsk. Đây là một vấn đề thực tiễn rất nổi bật, tác động quan trọng đến giảm giá thành sản phẩm, độ tin cậy cao, và khả năng tương thích của tài nguyên công nghệ máy tính. Các công việc tại trường Minsk đã được thời gian thử thách; những chiếc máy tính của họ đã được đưa vào sản xuất hàng loạt. Ví dụ như: Minsk-32 và ES-1020 nhái theo IBM đã được đưa vào dây chuyền lắp ráp chỉ sau hai tháng, những phác thảo của họ hoàn thành.
Trên bước đường sự nghiệp khoa học kỹ thuật của mình, Lopato là một người nổi bật ltrong các chương trình đào tạo, giáo dục cá nhân. Ông đã sáng lập ra ban hệ thống và vi tính tại học viện công nghệ - truyền thanh Minsk, và là người lãnh đạo ở đây trong suốt 10 năm. Ông bảo vệ luận án Ph.D. vào năm 1969 và trở thành tiến sĩ khoa học kỹ thuật vào năm 1975. Đến năm 1979, ông được bầu là viện sĩ thông tấn của viện hàn lâm khoa hộc Xô Viết. Ông đã cho xuất bản hơn một trăm hai mươi công trình khoa học, và nhận được 45 bằng sáng chế. George Lopato được trao tặng huân chương Cách mạng Tháng Mười vào năm 1972, huân chương lao động Cờ Đỏ vào năm 1976, phần thưởng quốc gia Liên Xô và huân chương Lenin vào năm 1983, Chữ ký Danh dự, và 9 huân huy chương khác, cùng với 4 tấm bằng danh dự của quốc hội Belarusia. Ông mất vào năm 2003.
|