Chương Bốn
Bí mật của những năm sau chiến tranh

Rất nhiều nhân viên của Bruk đã chạy sang làm việc với các dự án máy tính quân sự. Alexander Zalkind đã trình bày với một số hiểu biết riêng của ông về các dự án tối mật trước đây, tại viện ngiên cứa khoa học thiết bị tự động. Tiếp theo đó, là một phần trích đoạn trong bản báo cáo của Zalkind:
Vào năm 1957, chúng tôi – O.V. Rosnitsky, A.I. Shurov, tôi và người lãnh đạo chung cả nhóm là Nikolai Matyuhin – quyết định chuyển sang viện nghiên cứu khoa học bộ công nghệ Radio để phát triển một hệ thống SAGE của Liên Xô (SAGE được viết tắt của cụm từ - Semi-Automatic Ground Environment – một hệ thống phòng không được vi tính hóa và được thiết kế tại viện công nghệ Massachusetts - Mỹ) . Viện ngiên cứu khoa học thiết bị tự động được thành lập vào năm 1956. Tiến sĩ G.L. Shorin, vào thời gian này là giám đốc kiêm kỹ sư trưởng dự án thiết kế hệ thống phòng không. Vào năm 1958, nhóm chúng tôi bắt đầu thiết kế một hệ thống "Mặt đất"
Hệ thống Mặt đất này được bắt đầu thiết kế với các thiết bị điện báo thông thường. Chuyên cung cấp các thông tin về sự chuyển động của các vật thể, các thông tin này được truyền qua một mạng lưới điện báo. Những người trực tổng đài điện báo, sẽ định dạng các thư tín này và chuyển giao cho những người điều hành bảng điều kiển kỹ thuật số, họ sẽ mã hóa các thông tin này thành những cơ sở dữ liệu riêng biệt; các dữ liệu này từ các bo mạch điện tử sẽ được đi qua các thiết bị tính toán dữ liệu, để phân tích được các tọa độ và đường chuyển động của các vật thể. Các dữ liệu khi truy xuất sẽ được lưu giữ trong một trống từ có chức năng như là một bộ nhớ trung gian. Sau đó, các dữ liệu được truyền đi trống từ đến một chiếc máy tính sử lý thứ cấp, chiếc máy tính này được lắp một đèn hình tia cực âm đặc biệt. Tất cả các ký tự, con số dự toán và biểu tượng logic sẽ được hiện thị trên màn ảnh của bóng hình bằng một tấm chắn chiếu tia điện tử.
Tất cả các thiết bị được chế tạo rất nhanh chóng, để kịp với tiến độ. Vào quí hai năm 1960, ủy ban nhà nước đã xem xét lại các thiết bị của chúng tôi và kết luận rằng; hệ thống này không đáng tin cậy, do không đủ tính năng đa chiều của các bộ phận sử dụng đèn chân không điện tử. Ủy ban quyết định, ngăn cấm sử dụng các loại bóng đèn điện tử trong mọi dự án trong tương lai.
Một trong những lý do mà chúng tôi muốn đề cập đến hệ thống Mặt đất ở đây, là có liên quan đến một số viễn cảnh mà nhóm của chúng tôi giành được thành công sau này. Trong vòng 15 năm, viện chúng tôi đã tạo dựng được cả một mạng lưới toàn cầu, bao gồm hơn 20 trung tâm tổng đài địa phương. Mạng lưới này, thông tin được trao đổi hoạt động suốt ngày đêm với hệ thống phòng không. Trong thời kỳ này, hệ thống hầu như không bị hỏng hóc gì. Tetiva, đây là một chiếc máy tính bán dẫn đầu tiên của Liên Xô, nó được hình thành vào năm 1960 cho mục đích cụ thể này. Tetiva – trong tiếng Nga có nghĩa là – dây cung.
Chiếc máy tính Tetiva đầu tiên của Liên Xô, được sử dụng một chương trình cực tiểu lưu giữ trong ma trận của bộ nhớ lưu giữ nhị phân. Sau này, hệ thống kiểm soát chương trình cực tiểu này cũng sử dụng trong những chiếc máy tính như chiếc Armenian Nairi được thiết kế vào năm 1964, chiếc Mir, và ES-1020. Phần số học của chiếc Tetiva chỉ sử dụng các mã hóa toán hạng trực tiếp. Loại máy tính này đắt tiền hơn tất cả các loại đã được phát triển trước đây, nhưng nó có tốc độ khá cao và có một bộ xử lý tự điều khiển tốt nhất.
Xưởng máy tính Minsk đã sản xuất một loạt máy tính Tetiva, và vào năm 1962, có tám chiếc được lắp đặt ở các hệ thống phòng thủ trên các quốc gia khác trên thế giới. Các thông tin ban đầu được nạp vào máy tính Tetiva, được thực hiện bới sự trợ giúp của một khóa chuyển đôi cơ học đặc biệt, nó dẫn tọa độ của các vật thể từ một màn hiển thị của đèn chiếu tia cực âm. Chương trình máy tính bán tự động, cũng đã cung cấp các thông tin về vị trí của các tên lửa.
Để đảm bảo được các chức năng của hệ thống phòng không được hoạt động suốt ngày đêm, có hai chiếc máy tínhTetiva được hoạt động cùng một lúc để tạo ra được tình trạng "máy tính liên hoàn không sự cố", nếu có một sự cố xảy ra trên một chiếc máy tính nào, thì hệ thống sẽ tự động chuyển đổi chương trình sang một chiếc máy tính khác. Hệ thống máy tính liên hoàn này, chính xác là được sử dụngtrong hệ thống phòng không của Liên Xô trong suốt hơn 30 năm, và vào năm 1987, nó đã bắt được tín hiệu về chiếc máy của Mathias Rust đã bay vào vùng trời của Liên Xô (Mathias Rust người Tây Đức năm 1987, đã dùng một chiếc máy bay thể thao hạng nhẹ bay vào quảng trường Đỏ ở Moskva – ND). Sự phát triển của chiếc máy tính Tetiva dựa trên hệ thống này vẫn còn tiến triển tiếp tục, cho đến khi các công việ được bắt đầu trên các loạt máy tính biến tấu đầu tiên, 5E63 và 5E63.1. Vào năm 1967, sau khi thử nghiệm thành công những chiếc máy tính này được đưa vào sản xuất hàng loạt. Từ khi đó, hàng trăm chiếc đã được sản xuất.
Cũng vào năm 1967, chúng tôi bắt đầu làm việc trên chiếc máy tính tương thích – ES đầu tiên, sử dụng Môdun thi hành của loại 5E76. Chiếc 5E76 đầu tiên được sử dụng như là một phần của 6 chiếcmáy tính liên hợp.
Năm 1969, chúng tôi bắt đầu tiến hành thiết kế hệ thống kiểm soát phòng không "Quét toàn cầu", với dự định đáp ứng các thông tin chi tiết từ vùng biển Baltic đến Thái Bình Dương. Đặc điểm chính của hệ thống này là, bảo đảm kết nối thông suốt các trung tâm tổng đài ở các vùng rộng lớn lại với nhau trong 24 giờ liên tục trong ngày và ba trăm sáu lăm ngày trong năm, được ở chế độ hoạt động tự động liên tục, và có độ tin cậy cao.
Do không gian hạn chế và đòi hỏi phải có độ chính xác đáng tin cậy của những chiếc máy tính trung tâm tổng đài, chúng tôi đã phát triển một hệ thống máy tính kép, chúng được kết nối hai chiếc máy tính 5E76-B lại với nhau – những chiếc máy tính này là những chiếc 5E76 được hiện đại hóa. Hệ thống mới này được gọi là hệ thống 65s180, và giữa những năm 1972 và 1992, có ba mươi hai hệ thống như vậy được lắp đặt.
Tất cả những chiếc máy tính đó, được phát triển dưới sự điều khiển của Matyuhin, và do ông và đồng nghiệp thiết kế chỉ để dành cho hệ thống phòng không của Liên Xô. Đề tài này, hiện đang đợi những sự khảo sát tỉ mỉ tiếp của những học giả và các nhà nghiên cứu.
|