MỘT GIẤC MƠ...
Thị trấn nhỏ với những ngôi nhà gỗ xinh xắn bên bờ con sông Dniev cuồn cuộn chảy từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây đổ ra miền Hắc Hải chia cắt xứ Ucraina tuyệt đẹp như một thiếu nữ mười bảy thành hai miền gần như biệt lập nhưng đoàn kết anh em đằm thắm bằng cây cầu nghĩa tình mang tên Kiev - Thành phố của những pháo đài, những công viên ngập tràn trong hoa hồng và chim bồ câu, những tòa nhà cổ kính mang dáng dấp La Mã cổ xưa. Từ cái miền quê hẻo lánh ở phương Nam xa xôi này, nơi dân cư tập trung đông đúc nhất nếu đi không quá nửa ngày về phía Tây Nam xa hơn một chút nữa sẽ tới được Odessa, tới miền cửa sông giáp ranh xứ Moldavia. Chính ở đây, cách đây độ nửa canh giờ, một nhóm kị binh Đỏ đã choảng nhau nảy lửa với bọn quạ Trắng, bọn Vrangel. Hàng tấn máu của cả hai bên đã đổ xuống đất đen vì sự bình yên cho quê hương. Dù chỉ nhỉnh hơn que diêm được vài phân song vì những thành tích dẫn đường tuyệt vời của mình, bọn trẻ làng tôi được vinh dự gia nhập đoàn quân vinh quanh, được khoác trên mình chiếc áo dạ vừa dày vừa ấm và đội trên đầu chiếc mũ chóp nhọn mang tên người chỉ huy anh hùng Budionyi có gắn ngôi sao đỏ sáng chói như mặt trời, với anh em chúng tôi là niềm hạnh phúc quá lớn. Dù chỉ giữ chân liên lạc viên, song tôi vẫn rất vui sướng vì được đóng góp chút sức lực nhỏ bé cho cuộc chiến đấu vĩ đại này.
Trong một trận giáp chiến quyết liệt gần Thị trấn, tình thế quá nguy cấp, bọn phỉ kéo đến ngày càng đông, không còn khả năng cứu vãn nổi, vị chỉ huy già đáng kính có bộ râu rậm cho gọi tôi lại, đoạn, con người nhân hậu ấy nhét vào ngực áo tôi một bức thư (Viết bằng tiếng Nga, tôi không dịch nổi), vỗ vai tôi khẩn thiết :
- Cố gắng chuyển cái này về Matxcơva ngay trước khi mặt trời lặn, nội nhật hôm nay. Gấp !
Tuân lệnh chỉ huy, tôi thắt dải băng đỏ lên cánh tay và nhảy phốc lên con chiến mã Nồi Đồng yêu quý, gò lưng cố ruổi thật nhanh, bằng mọi giá cho kịp về tới Bộ chỉ huy.
Nhưng khốn thay, một thằng nhóc con nhà nông, vốn quen chiến trận quẩn quanh cái miền đồng cỏ bé tẹo quê mình sao có thể tìm đường mà tới thành phố hoa lệ ấy được. Lòng vòng mãi trong khu rừng thông cạnh hồ nước trong vắt dưới ánh mặt trời, cuối cùng tôi tìm thấy nơi trú quân của một toán kỵ quân khác. Họ chỉ tay về phía một con nước xa xôi bên kia dãy núi, bảo :
- Cứ men theo bờ sông Dniev mà ngược lên phía thượng nguồn, thể nào cũng tới được đất Nga !
Nhanh như một chú sóc rừng lúc nhằn quả thông, chẳng kịp ngoái lại cảm ơn nữa, tôi thúc ngựa tế nước đại phóng gấp như bay, vành mũ sụp xuống nửa trán che mất ánh sáng trên đầu, khó nhìn phía trước mặt quá. Tôi chỉ thoang thoáng thấy những triền núi lô nhô dọc bờ sông, cứ lùi dần phía sau lưng. Cái đốc kiếm nặng như chì thúc vào đùi căng cắc, tôi chẳng để ý gì nữa. Còn sớm chán, nhanh còn kịp !
Con ngựa phóng nhanh như gió lốc làm bụi cuốn tung mù mịt, tôi không còn thì giờ bận tâm trông theo những khu rừng bạch dương xum xuê cứ xa dần phía bờ con sông óng ánh những mảnh vàng nữa ? Bằng mọi giá phải về tới thành phố ngay trước lúc hoàng hôn - Tôi nghĩ thế và óc căng ra như những sợi dây trên chiếc đàn Mandolin, mắt và tai cảnh giác tối đa với từng thứ âm thanh nhỏ nhất dọc đường đi, kể cả lá rơi. Không lo sao được, biết đâu bọn phỉ đang quanh quất chầu chực trong nhữung khu rừng tối đen kia thì sao ?
Tôi cho ngựa dũng mãnh vượt qua những hàng rào quân sự tràn ngập sắc Đỏ, qua thành Dnipropetrovsk, thành Kremenchuk xứ Poltava rồi ngược lên Cherkasy để về tới Kiev và sắp rồi, qua khỏi đất Belarus xanh tươi màu cỏ mới là có thể ung dung tiến vào đất Nga, thế là coi như đã hoàn thành xong nhiệm vụ.
Ngựa đang lao như một mũi tên hăm hở trên đất Bạch Nga thì “đoàng...”, một loạt đạn súng máy nổ vang trời, tôi không thể ghìm cương được nữa nhưng còn cố ngoái lại phía đằng sau. Xa xa về phía những đám bụi đen xám đằng kia là một toán Quạ trắng. Bên hông, trên ngực chũng dắt đầy súng đạn, dao kiếm trông rất dữ tợn đang gào thét đuổi theo thằng nhóc mặc quân phục Đỏ mà chúng bắt gặp trên đường đi. Xong rồi, tên đội mũ lông gấu, ria mép dài ngoẵng kiểu Thổ đen thui như phân ngựa (tôi đoán là tên cầm đầu) thét “Dừng lại !”. Song tôi càng thúc con ngựa yêu phóng nhanh hơn chứ không dám bắn trả (Sáng nay tôi nhỡ để quên khẩu Browning yêu quý trong balô của anh Ninh mất rồi). Tôi có thể cảm nhận rất rõ hơi thở gấp gáp của nó phì ra cả đằng mũi, nước da đen đồng của con ngựa ngày một nóng ran như chính ngọn lửa đang thiêu đốt trong dạ của tôi.
Không, bằng mọi giá ta không thể bị rơi vào tay chúng. Cố lên nào, chút nữa thôi ! Chạy, chạy đi, chạy nhanh nữa lên ! Ta phải về tới đất Nga, ôi nước Nga yêu quý.
Thôi rồi, ở phía trước mặt đã không còn một bóng cây nào nữa. Một cái vực thẳm sâu hun hút từ hàng triệu năm hiện ra trước mặt. Tôi cố ghìm cương, song con ngựa lao nhanh quá. Nó mất đà, hí vang làm tôi bị hất tung khỏi lưng ngựa. Cả người và ngựa lao nhanh xuống vực, bên tai tôi vẫn văng vẳng tiếng thét : Bắt lấy thằng nhóc, bắt lấy thằng nhóc ! Mật thư, mật thư... (Sao chúng nó biết được nhỉ, hay đã có kẻ phản bội ?). Tôi cứ thế rơi tự do xuống vực thẳm, bao nhiêu ký ức về một thời êm đẹp chợt ùa về như những chú chim câu. Tôi thấy nuối tiếc vì đã để vuột mất nhiều thứ, nhà tôi đây, trường tôi đây, và đó là các bạn bè tôi, anh em tôi, Đồng chí tôi, từng khuôn mặt thân quen lại hiển hiện rõ rệt biết chừng nào : Chị Én này, chị Đốp này, rồi anh Ninh, chị Nhinka. Họ cứ nhìn tôi như thể… tôi thấy trước mắt mình hiện ra một chiêc xe lớn, chăng băng rôn đỏ chói chở hai mươi mấy con người mặc những chiếc áo xanh gọn gàng, vai khoác balô với nụ cười trong sáng như pha lê đang men theo triền núi mà lên tới đỉnh, hai bên đường ngập tràn hoa lá và ánh nắng muôn màu… Chiếc xe đang trườn lên dốc bỗng khựng lại rồi đổ nghiêng xuống chân núi, tôi thấy thất vọng. Trong tiềm thức mơ màng của mình, tôi chợt có những đắn đo… làm sao bây giờ, ta sắp chết khi còn chưa kịp về tới cái đích cuối cùng (Gì nhỉ, tôi đã gần như quên mất cái sứ mệnh của mình rồi). Tự nhiên tôi chột dạ, nhớ Mùa hè xanh da diết, sợ rằng mọi ngưòi sẽ đi mất mà không chờ đợi tôi. Tôi thấy trống vắng, bên tai văng vẳng lời căn dặn của chị Tũn (bỗng dưng tôi cảm thấy khó thở như có tia sét hay hòn đá chẹn ngang cổ họng) : “Đứa nào ngủ quên hay dậy muộn là bỏ mặc đấy nhé, không ai đợi mãi được đâu !”. Làm sao bây giờ, ai cứu được tôi không ? A đúng rồi, anh Ninh ! Phải gọi anh Ninh, không chắc giờ này anh ấy còn ngồi trước màn hình vi tính không, mau gọi đi, nguy cấp lắm rồi…
AAAAA…( Tôi cố dằn từng tiếng, trống ngực đập thình thịch). Anh Ninh, anh Ninh ơi ! Cứu… Cứu em với…
AAAAAAAAA… - Tôi cố hét thật to !
Kekéééttt ! Ai đó mở tủ quần áo khiến tôi bừng tỉnh cơn mê, khung cảnh quen thuộc hiện ra trước mặt. Trên đầu chợt lơ lửng một thanh gươm Damocles sang loáng, ồ không, đó chỉ là cái bóng đèn thôi mà. Phù ! Tôi vẫn nằm trên giường co ro dưới cái quạt vù vù chạy hết công suất, may mà không gào toáng lên không các ông ấy tưởng có ma.
Đã 4 giờ sáng rồi. Ngoài kia trời còn tối đen như mực, như cái tiền đồ của chị Dậu…
(Trích "Nhật ký Mùa hè xanh - 2008)