Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Liên Xô phóng thành công tàu con thoi không người lái Buran, thanhf72 xin phép bác chủ topic được tiếp tục chủ đề "Hàng không vũ trụ Liên Xô và Nga" bằng một số thông tin tổng hợp từ nhiều nguồn về sự kiện này.
Việc thiết kế và sản xuất tàu Buran là chương trình vĩ đại của Liên Xô. Ròng rã suốt 18 năm trời, có hơn 1 triệu người tham gia dự án này tại 1.286 nhà máy, cơ quan thuộc 86 bộ, ngành cùng sự hỗ trợ của các trung tâm khoa học lớn. Dự án sản xuất Buran được bắt đầu vào năm 1972, khi Tổng thống Mỹ Richard Nixon tuyên bố, Mỹ bắt đầu thực hiện chương trình Space Shuttle.
Thời gian này người ta đề cập nhiều đến vũ khí laser, trên lý thuyết có thể thiêu hủy tên lửa của đối phương từ hàng nghìn km. Liên Xô cho rằng Mỹ sản xuất tàu con thoi nhằm mục đích này thì tàu Buran cũng phải nhắm đến cái đích quốc phòng.
Sau khi quyết định thực hiện dự án Buran, thời gian ban đầu Liên Xô vẫn loay hoay với thiết kế khả thi. Phương án đầu tiên mang tên “OS – 120” xuất hiện năm 1975 vẫn là bản sao nguyên mẫu tàu con thoi của Mỹ.
Song song đó, một phương án thiết kế khác mang tên MTK – VP cũng được tiến hành. Với phương án này tàu con thoi có trọng lượng khoảng 90 tấn. Đây là phương án khả thi hơn, khi phần trước con tàu có hình nón với ca-bin cho phi hành đoàn (dự tính là 10 người) cùng các động cơ định hướng. Ở phần giữa là khoang chứa hàng lớn, còn phía sau chứa nguyên liệu cùng 6 động cơ đẩy. Buran dài 36,4m, sải cánh dài 24m, cao hơn 16m.
Về tính năng, Buran có nhiều điểm vượt trội so với tàu con thoi của Mỹ. Buran dùng tên lửa đẩy Energia, có nguyên liệu lỏng kerosene –oxygen, trong khi đó tàu con thoi NASA dùng nguyên liệu rắn, mỗi lần phóng phải thay mới bình nhiên liệu bên ngoài do đã bị đốt bỏ trong khí quyển. Về tải trọng, Buran có thể mang 30 tấn hàng từ trái đất lên quỹ đạo so với 25 tấn của tàu con thoi NASA. Lượng hàng Buran mang về từ quỹ đạo cũng lớn hơn: 20 tấn, so với 15 tấn tàu con thoi của Mỹ. Ngoài ra, Buran có thể nhanh chóng di chuyển đến bệ phóng trên đường ray chuyên dụng theo phương nằm ngang rồi mới dựng đứng ở điểm phóng. Trong khi đó do phải di chuyển bằng phương thẳng đứng, nên tàu con thoi được lắp đặt vào bệ phóng rất chậm chạp. Buran được thiết kế theo hai dạng: có người lái và không có người lái, có thể tự động hạ cánh. Tuy nhiên, Buran cũng có điểm yếu là khi phóng lên, nhiệt độ bên ngoài thân tàu lên đến 1.900 độ, nên ảnh hưởng đến độ bền sử dụng vỏ bên ngoài của nó. Tuy nhiên các khoa học gia Liên xô khẳng định là tàu Buran tốt hơn các tàu con thoi của NASA về mọi mặt nhất là vật liệu của vỏ tàu. (Về công ngệ chế tạo lớp vỏ gốm chịu nhiệt bên ngoài tàu con thoi Buran, có nhiều thông tin cho rằng đó là kết quả của quá trình nghiên cứu những tài liệu tuyệt mật về công nghệ của NASA- do 1 điệp viên KGB là Vartan Kasparov cung cấp- sau đó cải tiến, phát triển hoàn thiện hơn).
Việc chế tạo các tàu con thoi bắt đầu năm 1980 và tới năm 1984 chiếc Buran đúng tỷ lệ đã xuất xưởng. Chuyến bay thử nghiệm dưới quỹ đạo đầu tiên diễn ra vào khoảng tháng 7 năm 1983. Khi dự án được xúc tiến, thêm năm chuyến bay thử nghiệm nữa được tiến hành. Một phương tiện thử nghiệm được chế tạo với bốn động cơ phản lực ở hai bên, phương tiện này thường được gọi là OK-GLI, hay là "Phiên bản khí động lực tương tự của Buran". Các máy bay phản lực được sử dụng để cất cánh từ một khoảng đường băng thông thường, và sau khi đã tới điểm được chỉ định, các động cơ sẽ bị ngắt và OK-GLI lướt đi để hạ cánh. Việc thử nghiệm này cung cấp các thông tin có giá trị về những đặc thù vận dụng trong thiết kế Buran, và thuận tiện hơn so với cách dùng máy bay thường đưa mẫu lên rồi thả ra như Mỹ và các hãng khác.
Sau nhiều năm nghiên cứu và hoàn thiện nhiều mô hình tàu Buran, vào lúc 6 giờ (giờ Moscow) ngày 15.11.1988, từ sân bay vũ trụ Baikonur, Kazakstan, tàu Buran được phóng lên ở chế độ không người lái. Sau 3 giờ 26 phút, Buran bay 2 vòng quanh trái đất và hạ cánh an toàn tại Baikonur. Chuyến bay thành công tốt đẹp, cho thấy những tính toán, cách giải quyết các phương án kỹ thuật của đội ngũ chế tạo Buran là chính xác. Đồng thời nó cho thấy trình độ và tiềm năng kỹ thuật công nghệ cao của Liên Xô trong việc phát triển ngành khoa học vũ trụ, khiến thế giới phải nể phục.
Một phần cuộc phóng được đưa lên truyền hình nhưng cảnh tàu rời bệ phóng không được quay. Điều này dẫn đến một số suy đoán rằng sứ mệnh này có thể đã bị bịa đặt và rằng vụ hạ cánh tiếp sau có thể không phải là từ quỹ đạo mà là từ một máy bay chở tàu vũ trụ. Do đó, băng video về vụ phóng được giới thiệu với công chúng, xác nhận rằng tàu thật sự được phóng lên, với các điều kiện thời tiết xấu do các phương tiện truyền thông Nga miêu tả dễ nhận thấy vào thời điểm đó.
Tàu Buran và tên lửa đẩy Enhergya
Tàu con thoi của Mỹ
Đáng tiếc là chuyến bay nêu trên là lần duy nhất Buran bay lên quỹ đạo ngoài trái đất. Do có những biến động về chính trị, kinh tế nên sự phát triển khoa học vũ trụ của Liên Xô khi đó và Nga sau này có nhiều thay đổi. Liên Xô khi đó vẫn tiếp tục thực hiện việc sản xuất thêm các tàu Buran nữa, nhưng sau khi cường quốc này tan rã, đến tháng 6.1993, Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã ký sắc lệnh hủy bỏ chương trình. Việc B.Yeltsin ký sắc lệnh là do Nga khi đó kiệt quệ về tài chính, cũng như người ta cho rằng “Chiến tranh lạnh” đã thực sự chấm dứt.
Tính từ khi khởi động chương trình tàu Buran cho đến khi kết thúc, Liên Xô và Nga đã chi ra 20 tỉ rúp. Kết quả có 8 tàu Buran dưới những tên gọi, mã số khác nhau được hoàn thành. Trong đó có một số con tàu không được xuất xưởng và chưa bao giờ được phóng lên không trung. Trong số 8 con tàu này, thì hiện ở Công viên văn hóa M.Gorky tại Moscow còn trưng bày 1 chiếc, số còn lại ở Kazakstan và một số nơi khác. Riêng con tàu được phóng lên vũ trụ đã bị hư hỏng nặng do nhà chứa nó bị sụp vào năm 2002.
Một con tàu Buran khác là BTS - 002, từng cất cánh bay tập 24 lần từ 1985 - 1988, nhưng chưa bao giờ được phóng lên quỹ đạo, sau khi tham dự triển lãm hàng không Nga năm 1999 được Hãng Buran Space Corporation (BSC) thuê để trưng bày tại Olympic Sydney 2000. Riêng tiền vận chuyển tàu từ Moscow đến Sydney đã là 700 ngàn USD. Tuy nhiên do bị lỗ trong thương vụ này nên BSC đã bị phá sản sau đó. BTS – 002 được đem đấu giá 6 triệu USD, nhưng không được ai quan tâm.
Năm 2002, tại Bahrain có festival hàng không, nên BTS – 002 được chuyển qua đó. Kinh phí chuyên chở đi về dự tính khoảng 1,3 triệu USD. Tuy nhiên khi festival kết thúc, BTS – 002 nằm lại luôn ở đó. Và con tàu được bán lại cho Bảo tàng Sinsheim Auto & Technic tại thành phố Sinsheim của Đức.
(Tổng hợp)