View Single Post
  #6  
Cũ 07-11-2008, 10:59
thanhf72's Avatar
thanhf72 thanhf72 is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: May 2008
Bài viết: 24
Cảm ơn: 27
Được cảm ơn 36 lần trong 17 bài đăng
Default

14, SA-14 GREMLIN: Đây là loại tên lửa vác vai (MANPDAS) mà Nga gọi là Strela 3 (9K34).

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Những thông số chính:
- Dài: 1,4m.
- Đường kính: 75mm.
- Nặng: 10,3kg (2,95kg đầu đạn HE).
- Tốc độ tên lửa: 600m/s.
- Tầm bắn: 600-6000m.
- Tầm cao: 20m- 3500m.
Strela-3 là loại tên lửa vác vai tầm thấp được nghiên cứu từ năm 1978, nó là kẻ thay thế xứng đáng cho các đàn anh Strela-2 A/B (A-72 của VN). Tên lửa 9M36 hoặc 9M36-1 được trang bị đầu dò hồng ngoại được làm lạnh bằng nitơ lỏng có khả năng chống lại mồi bẫy hồng ngoại của các loại máy bay. Đầu dò hồng ngoại được cải tiến cho phép SA-14 tăng cường đáng kể góc bắn, đầu đạn cũng nặng gần gấp đôi so với SA-7 tạo ra phạm vi sát thương rộng hơn.
Strela-2/2M (SA-7A/B) có một nhược điểm là dùng đầu dò hồng ngoại Sulphua chì (PbS) không làm lạnh, làm việc trong dải sóng 1,7 đến 2,8 micron (vùng bức xạ do các chi tiết nóng ở động cơ phát ra) nên chỉ bắn được khi ống phụt hoặc các nguồn bức xạ nhiệt hướng về phía xạ thủ. Không quân đối phương chỉ việc phóng mồi bẫy nhiệt hoặc che chắn luồng bức xạ nhiệt là SA-7 bị vô hiệu hóa.
Để khắc phục nhược điểm đó, cuối những năm 60 (TK20), chương trình phát triển tên lửa MANPDAS của LX được chuyển giao từ OKB-134 tại Tushino sang cho Phòng thiết kế công nghiệp chế tạo máy Kolomna (Kolomna KBM). Ở đây, người ta phân việc nghiên cứu sản xuất loại tên lửa mới cho 2 nhóm, một nhóm (ngắn hạn) tìm cách cải tiến SA-7B (Strela-2M), một nhóm (dài hạn) nghiên cứu loại tên lửa mới.
Giải pháp ngắn hạn cho ra đời mẫu 9M36 Strela-3, Mỹ và Nato gọi là SA-14 Gremlin. SA-14 sử dụng đầu dò hồng ngoại bằng PbS được làm lạnh bằng Nito, hoạt động trong vùng 3,5 đến 6 micron cho phép nó có góc bắn rộng hơn nhiều, cũng như vô hiệu hóa được một số biện pháp đối phó như che chắn luồng khí xả...Ngoài ra, đầu dò của 9M36 còn có một bộ kính lọc hồng ngoại nhằm tránh bị đánh lừa bởi pháo sáng-mồi bẫy. Đầu đạn của Strela-3 nặng gần gấp đôi đầu đạn của Strela-2M nhằm tăng cao khả năng sát thương.
SA-14 được đưa vào trang bị của quân đội LX năm 1974, tới giữa những năm 80 (TK20) mới được xuất khẩu do lúc đó người Nga đã có hệ thống MANPDAS mới Igla (sản phẩm của nhóm nghiên cứu dài hạn thuộc Koloma KBM). Strela-3 được xuất khẩu cho Iraq, Syria, Nicaragoa...

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

15, SA-15 (Tor M1) : Tên Nga là 9K331 Tor M1

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Được đưa vào trang bị của QĐ Liên Xô năm 1990, Tor M1 đến nay vẫn là hệ thống tên lửa phòng không tầm trung vào loại hiện đại nhất của QĐ Nga hiện nay. Nó được thiết kế để chống lại tên lửa đạn hành trình, các máy bay ném bom, máy bay trực thăng của đối phương để bảo vệ bộ đội cơ giới hoá trên phạm vi chiến trường trong mọi thời tiết. Toàn bộ hệ thống đặt trên xe bánh xích GM-569 động cơ V-12, có thể chạy ở tốc độ lớn nhất là 65km/h trên đường bằng có hệ thống phòng hộ NBC, dự trữ hành trình 500km.
9K331 Tor-M1 của Nga được NATO và Mỹ đặt mật danh là SA-15 GAUNTLET (phiên bản dùng cho hải quân có tên SA-N-9) là hệ thống phòng không tầm thấp/trung, không những có khả năng tiêu diệt các mục tiêu bay cánh cố định, trực thăng mà còn có thể bắn hạ các vũ khí có điều khiển và tên lửa hành trình. TOR-M1 được thiết kế như một hệ thống phòng không hoàn toàn tự động có khả năng tự trinh sát, bắt bám và điều khiển, tiêu diệt mục tiêu từ từng xe phóng. Một tiểu đoàn thường được biên chế với 4 xe phóng cùng với 1 xe chỉ huy. Mỗi xe phóng mang được 8 quả tên lửa và có thể phóng thẳng đứng từ trong container. Hệ thống này có thể tự động bắt bám và phóng, điều khiển cùng lúc 2 quả tên lửa vào 1 mục tiêu trong mọi điều kiện thời tiết và trong bất cứ thời gian nào. Tên lửa của TOR-M1 là loại 1 tầng sử dụng nhiên liệu rắn có thể chịu được quá tải tới 30g, tốc độ tối đa 850m/s mang đầu đạn nổ văng mảnh trọng lượng 15kg.
Radar 3D mạch xung có thể cung cấp thông tin 3 chiều, có thể kiểm soát cùng lúc tới 48 mục tiêu, trong đó bám 10 mục tiêu nguy hiểm nhất cung cấp cho kíp điều khiển thông số chính xác trước khi quyết định bắn. Mặc dù tầm trinh sát của radar chỉ là 25km (với mục tiêu có diện tích phản xạ nhỏ nhất là 0,1m2), nhưng TOR-M1 chỉ mất có 5 đến 8 giây để phóng kể từ khi phát hiện mục tiêu. Nó cũng chỉ mất có 3- 4 giây để phóng tên lửa khi ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu (dừng tại chỗ) và khoảng 10 giây để dừng xe và phóng. Ngoài hệ thống radar, trong môi trường bị nhiễu nặng, TOR-M1 có thể dùng hệ thống bắt bám tự động bằng TV từ khoảng cách 20km để điều khiển tên lửa mà không cần dùng radar. Kíp chiến đấu tương đối gọn nhẹ với chỉ 3 đến 4 người. Mỗi lần phóng, nó có thể điều khiển cùng lúc nhiều tên lửa nhắm vào tới 2 mục tiêu khác nhau. Trong các lần thử nghiệm, TOR-M1 có xác suất tiêu diện các mục tiêu bay là vũ khí có điều khiển chính xác và tên lửa hành trình lên tới 0,6 đến 0,9 (hay 60-90%). Hiện nay trong trang bị của lực lượng phòng không lục quân Nga có khoảng 100 hệ thống TOR-M1 với nhiều biến thể. Phiên bản hải quân của SA-15 được gọi là SA-N-9, hiện nay có tin Nga đang nghiên cứu tích hợp hệ thống tên lửa này với pháo phòng không 6 nòng AK-630 để trang bị cho các tàu hải quân.
Trung Quốc là nước đầu tiên mua TOR-M1 và hiện đã nhận được 50 hệ thống và có thể sẽ mua tiếp 25 hệ thống nữa. Hy Lạp cũng đã mua 31 hệ thống trong các năm 1998 và 2000 với tổng giá trị khoảng 860 triệu USD. Năm 2005, Iran cũng đặt mua 29 hệ thống này với giá khoảng 790 triệu USD, hiện đã chuyển giao xong. Vụ mua bán này khiến Mỹ rất tức giận vì nó tăng cường đáng kể khả năng phòng không của Iran. Nga cũng đã chuyển giao cho Ai Cập 4 hệ thống này vào năm 2005 trong chương trình hiện đại hóa hệ thống phòng không vốn đã khá lạc hậu của nước này. Ngoài ra, Venezuela, Libya và Saudi Arabia cũng đang xúc tiến những hợp đồng nhằm mua TOR-M1. Ước tính, mỗi hệ thống TOR-M1 có giá từ 27,5 đến hơn 30 triệu USD. Ngoài ra, mỗi quả tên lửa 9M331 của TOR-M1 có giá khoảng 150.000 USD. Tính năng chiến đấu của đạn tên lửa:
- Dài: 2,9m.
- Đường kính: 235mm.
- Nặng: 167kg.
- Đầu đạn nặng: 15kg HE.
- Tầm bắn: 100m - 12km.
- Tầm cao: 100m - 6km.
- Tốc độ: 850m/s (2,8M).

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

16, SA-16 GIMLET: Nga gọi loại này là Igla-1 9K310. Thực ra loại tên lửa phòng không vác vai này còn ra đời sau SA-18 GROUSE (Igla) tới 3 năm, nó là phiên bản đã được đơn giản hoá. Ở VN nó có tên là A- 87.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những thông số chính:
- Tên lửa dài: 1,7m.
- Nặng: 17kg.
- Tầm bắn: 500-5000m.
- Tầm cao: 10-3500m.
- Tốc độ: 570m/s.
- Đầu đạn: 2kg HE.
Là loại tên lửa phòng không vác vai nên SA-16 được thiết kế để có thể tiêu diệt các loại máy bay bay thấp, trực thăng và tên lửa hành trình. Ngoài ra, người ta còn lắp đặt SA-16 lên các phương tiện cơ giới như xe chiến đấu bộ binh, máy bay trực thăng (lúc đó nó trở thành loại không đối không).
Trên cơ sở của Igla-1, hiện nay Nga đã có phiên bản Igla-S hiện đại và đa năng hơn.

17, SA-17 GRIZZLY: Nga gọi loại loại này là Buk-M1 (loại cải tiến là Buk-M1-2)

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Những thông số chính:
1. Đối với mục tiêu bay có diện tích phản xạ cỡ như máy bay F-15:
- Tầm bắn hiệu quả tối thiểu/tối đa: 3/45km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 0.015/25km
2. Đối với tên lửa đường đạn chiến thuật:
- Tầm bắn hiệu quả: tới 20km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 2/16km
3. Đối với tên lửa HARM:
- Tầm bắn hiệu quả: tới 20km
- Tầm cao hiệu quả tối thiểu/tối đa: 0.1/15km
4. Đối với tên lửa hành trình phóng từ trên không ALCM:
- Tầm bắn hiệu quả: 30-35km
5. Đối với mục tiêu nổi trên mặt nước cỡ tàu khu trục:
- Tầm bắn hiệu quả tối thiểu/tối đa: 3-25km
6. Đối với các mục tiêu cố định trên mặt đất như máy bay đang đỗ, các bệ phóng và sở chỉ huy cỡ lớn:
- Tầm bắn hiệu quả: 10-15km
Xác suất tiêu diệt mục tiêu với 1 quả tên lửa:
- Đối với máy bay F-15 không cơ động: 0,9-0,95 (hay 90-95%)
- Đối với tên lửa đường đạn chiến thuật: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
- Đối với tên lửa HARM: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
- Đối với tên lửa hành trình phóng từ trên không ALCM: 0,5-0,7 (hay 50-70%)
Tên lửa 9M317:
- Tổng trọng lượng: 710kg
- Dài: 5,55m
- Đường kính: 0,40m
- Đầu đạn tiêu chuẩn: 70kg
- Tầm bắn tối thiểu/tối đa: 3/48km
- Tầm cao tối thiểu/tối đa: 15/25.00m
- Tốc độ tối đa: 4.320km/h
Đây là hệ thống tên lửa phòng không cơ động tự hành được phát triển trên cơ sở hệ thống Buk (SA-11 GADFLY) có thể được trang bị cho lực lượng phòng không/phòng không lục quân và lực lượng bảo vệ bở biển. Nó không những tiêu diệt được các máy bay chiến thuật có khả năng cơ động cao, máy bay chiến lược, trực thăng, tên lửa hành trình mà còn tiêu diệt được cả các loại tàu chiến, các mục tiêu cố định trên mặt đất và tên lửa không đối đất. Đến năm 1994, người Nga đưa ra phiên bản mới của SA-17, họ gọi nó là Buk-M1-2 trang bị loại tên lửa 9M38M2 có đầu đạn nặng hơn, tầm bắn xa hơn. BUK-M1-2 có khả năng tác chiến trong môi trường bị nhiễu nặng và tránh được hầu hết các loại mồi bẫy. Mỗi hệ thống (Phân đội) bao gồm: 1 xe chỉ huy; 1 trạm trinh sát/bắt bám và điều khiển đặt trên xe; 6 xe bệ phóng, mỗi xe mang 4 quả tên lửa sẵn sàng phóng và 4 quả dự trữ; 3 xe tiếp đạn. BUK-M1-2 sử dụng 1 radar trinh sát tầm xa 9S117M1 Kupol-2 Snow Drift, tầm phát hiện 100km; 1 radar bắt bám mục tiêu 9S35M2 Fire Dome hoạt động trong dải sóng H/I tầm hoạt động 120km. BUK-M1-2 có thể cùng lúc kiểm soát 75 mục tiêu, cung cấp các thông số cụ thể về 15 mục tiêu nguy hiểm nhất. Hệ thống này có thể tiêu diệt các mục tiêu bay có tốc độ tối đa 3.600km/h và nó chỉ mất 5 phút để triển khai chiến đấu hoặc rút khỏi trận địa sau khi phóng.
Toàn bộ hệ thống được đặt trên khung cơ sở giống như SA-11, nhưng nó được cải tiến để có thể mang tới 4 quả tên lửa 9M38M.
Phiên bản hải quân của SA-17 được gọi là SA-N-12 được lắp trên các tuần dương hạm của Nga.

18, SA-18 Grouse:
Nga gọi loại này là Igla 9K38 với tên lửa 9M39M. Thực ra, thế hệ tên lửa phòng không vác vai này được dự tính sản xuất để thay thế Strela-2 SA-7 từ 1971, tuy nhiên khi nghiên cứu nó người ta (tổ hợp Kolomna) lại chia nó ra làm 2 nhóm nghiên cứu riêng. SA-16 Igla-1 ra đời sau nhưng lại được đưa vào sử dụng trước (năm 1981), hai năm sau năm 1983, SA-18 Igla mới được chấp nhận đưa vào sử dụng.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Những thông số chính:
- Dài: 1,7m.
- Đường kính: 0,72m.
- Nặng: 11kg.
- Đầu đạn: 2kg HE
- Tốc độ: 600m/s.
- Tầm bắn: max 5200m.
- Tầm cao: max 3500m.
SA-18 Igla sử dụng chung loại động cơ tên lửa với SA-16 Igla-1, chỉ khác là ngoài đầu dò hồng ngoại, nó còn có thêm một đầu dò quang ảnh (tương tự như ở SA-13) để tối ưu hóa khả năng chống mồi bẫy nhiệt.
Phiên bản Hải quân của Igla là SA-N-10 Igla-M.
__________________
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
От улыбки хмурый день светлей
От улыбки в небе радуга проснется
Поделись улыбкою своей
И она к тебе не раз еще вернется

Thay đổi nội dung bởi: thanhf72, 07-11-2008 thời gian gửi bài 11:24
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
ctrela (07-11-2008)