4, SA-4 Ganef : Nga không đặt tên riêng cho loại SAM này, chỉ gọi theo ký hiệu tên lửa là 9M8, Mỹ thì đặt tên là SA-4, Nato gọi là Ganef.
Những thông số chính :
- Dài : 8,4 - 8,8m (Tuỳ từng phiên bản trên tàu chiến hay trên đất liền).
- Đường kính thân tên lửa : 0,86m.
- Nặng : 2500kg.
- Đầu đạn : 135kg HE.
- Tầm bắn : 50 - 55km.
Đây là hệ thống phòng không di động đầu tiên của Nga, toàn bộ giàn phóng và các rãnh dẫn hướng được đặt trên xe kéo bánh xích hạng nặng ATT. Còn một loại SA-4 nữa được đặt trên xe Ural-357 nhưng loại này chỉ "cõng" được một quả tên lửa.
Để bảo vệ cho giàn phóng khỏi sức nóng khủng khiếp của tên lửa khi bắt đầu phóng, tên lửa 9M8 được gắn 4 rocket sử dụng nhiên liệu rắn (máy phóng gia tốc Question ), nó có nhiệm vụ "ném" quả tên lửa ra khỏi bệ phóng khoảng 30m, sau đó động cơ chính của tên lửa mới khởi động.
SA-4 được triển khai lần đầu vào năm 1967, đến năm 1973 thì xuất hiện SA-4B sử dụng tên lửa 9M8M1 ngắn hơn và có tầm bắn gần hơn. Sau này, còn có loại tên lửa 9M8M2 đã được dùng cho phiên bản SA-6 đầu tiên.
5, SA-5 Gammon : Tên tiếng Nga của nó là S-200 (tiền bối của những S-300/400), Mỹ gọi là SA-5, Nato đặt mật danh là Gammon.
Những thông số chính :
- Dài : 10,72m.
- Đường kính : 0,85m.
- Nặng : 7000 - 8000kg.
- Đầu đạn : 215kg HE.
- Tầm bắn : 200km.
Đây là loại tên lửa phòng không tầm xa đầu tiên của Liên Xô. Khi nó vừa ra đời năm 1966, cả Nato và Mỹ đều cực kỳ quan tâm tìm hiểu về nó. Họ phát hiện ra, nó có tầm bắn lớn chủ yếu nhờ có thân hình khổng lồ và rất nặng. Tuy vậy, trong thực tế tầm bắn của nó chỉ được khoảng 160km và không phải ngẫu nhiên Nato lại đặt cho nó cái mật danh "Lừa gạt". Đến năm 1969, người Nga đã có 200 tiểu đoàn tên lửa SA-5. (Sau này, cũng trên cơ sở của S-200 theo một số nguồn tin thì đã có một phiên bản được trang bị đầu đạn hạt nhân để trở thành tên lửa chiến trường đất-đối-đất).
Lý lịch của SA-5 khá đen tối, năm 2001 khi được bán cho Ukraina trong một lần bắn tập nhằm vào mục tiêu là một chiếc La-17, nó đã bắn nổ tung một chiếc Tu-154 của Nga, làm 76 người thiệt mạng. Trong cuộc chiến 5 ngày Nga- Gruzia vừa qua có thông tin cho rằng 01 chiếc MB ném bom TU22B và 02 chiếc TK SU25 của Nga bị hạ bởi loại này- không biết có đúng không.
6/ SA-6 Gainful : Tên Nga của loại tên lửa này là ZRK-SD Kub 3M9, Mỹ xếp loại SA-6 còn Nato code name là Gainful.
Những thông số chính :
- Dài : 5,8m.
- Đường kính : 0,335m.
- Nặng : 599kg.
- Đầu đạn : 59kg HE.
- Tầm bắn : từ 3 - 28km (tùy phiên bản).
SA-6 thuộc loại tên lửa phòng không tầm ngắn. Ra đời năm 1967, nó thay thế cho SA-3 hoàn chỉnh hệ thống tên lửa phòng không đủ cả tầm xa lẫn tầm ngắn. Được trang bị đồng bộ : radar LONG TRACK, xe tiếp đạn và xe bệ phóng đều đặt trên xe xích hạng nặng AT-T (đã được cải tiến) nên SA-6 rất cơ động và có tính việt dã cao. Nó rất phù hợp cho nhiệm vụ cơ động bảo vệ phòng không cho các quân đoàn tăng, thiết giáp khi chiến đấu.
Năm 1977, phiên bản mới SA-6B được sản xuất. Với radar mới sử dụng hiệu ứng xung Doppler và G-band đã nâng tầm phát hiện mục tiêu của SA-6B lên đến tối đa 75km, có thể bám và tiêu diệt mục tiêu ở 28km. Radar LONG TRACK cũng được cải tiến để chống lại các loại tên lửa không-đối-đất chống radar kiểu Shrike, bằng cách phát sóng radar ngắt quãng.
Phiên bản cho hạm tàu được Mỹ gọi là SA-N-3 Goblet.