Báo cáo các bác là trong box này thấy mọi người trao đổi nhiều về TLPK, thanhf72 mạn phép nhặt nhạnh lung tung ở các nguồn đưa lên đây, không biết có đúng hết không, xin ỷ kiến của các bác nhé.
Sau chiến tranh thế giới 2, công nghệ hàng không có những phát triển vượt bậc, tất cả các loại máy bay chiến đấu đều được trang bị động cơ phản lực với tốc độ, tầm cao hoạt động lớn hơn rất nhiều so với các loại máy bay động cơ cánh quạt trước kia. Các loại pháo phòng không hầu hết đều không còn khả năng "với" được tới những máy bay phản lực nên chỉ thuận lợi khi "giăng màn đạn" để ngăn chặn còn tiêu diệt mục tiêu khá khó khăn. Người ta bắt đầu nghĩ tới việc phải có một vũ khí mới để phòng chống, tiêu diệt các mục tiêu ở tầm hoạt động và tốc độ cao, thế là tên lửa phòng không ra đời. Thực ra tên lửa phòng không cũng bắt nguồn từ ông tổ V1, V2 đất đối đất của Đức Quốc Xã hay xa hơn nữa là từ những quả pháo thăng thiên của Trung Quốc. Tuy nhiên, khi áp dụng chất xám và công nghệ của thế kỷ 20, tên lửa phòng không đã trở thành một thành phần chủ yếu nhất trong hệ thống phòng không quốc gia của tất cả các nước trên thế giới. Người Nga (căn cứ trên những tài liệu thu được của Đức) đã phát triển một loạt các thế hệ tên lửa phòng không hiện đại và cực kỳ hữu dụng. Tên lửa Nga đã từng nổi tiếng qua chiến tranh chống Mỹ của nhân dân VN hay cuộc chiến tranh 6 ngày giữa Israel và các nước Arab.
Các loại tênlửa phòng không Liên xô và Nga:
SA-1 GUILD
SA-2 GUIDELINE
SA-3 GOA
SA-4 GANEF
SA-5 GAMMON
SA-6 GAINFUL
SA-7 GRAIL
SA-8 GECKO
SA-9 GASKIN
SA-10 GRUMBLE
SA-11 GADFLY
SA-12 GLADIATOR
SA-13 GOPHER
SA-14 GREMLIN
SA-15 GAUNTLET
SA-16 GIMLET
SA-17 GRIZZLY
SA-18 GROUSE
SA-19 GRISOM
SA-20 Triumf
SA-21 Mysk
Antey-2500
1, SA-1 Guild : Nga gọi là loại S-25 Berkut, Mỹ gọi là SA-1, Nato gọi bằng mật danh Guild.
Những thông số chính của đạn:
- Dài : 12m.
- Đường kính : 0,71m.
- Nặng : 3500kg.
- Đâù đạn : 250kg HE.
- Tầm bắn : 32 - 40km.
- Điều khiển : bằng sóng radio.
Đây là loại tên lửa phòng không (SAM) đầu tiên được trang bị rộng rãi của LX. Được nghiên cứu từ năm 1950 đến năm 1954 nó bắt đầu được sản xuất hàng loạt. Đã có 3200 quả SA-1 được sản xuất, những đơn vị tên lửa đầu tiên được bố trí quanh Moskva nhằm bảo vệ thủ đô và vùng công nghiệp xung quanh.
2, SA-2 Guideline : Nga gọi là V-75, Mỹ gọi là SA-2, Nato gọi bằng mật danh Guideline.
Loại này có nhiều phiên bản khác nhau, tầm bắn và độ cao bắn cũng khác nhau tuy không nhiều lắm. Phiên bản viện trợ cho VN trong kháng chiến chống Mỹ là C-75 (Dvina) B,C; (Chính là koại đã bắn rơi 34 (có tài liệu ghi là 32) B52 trên bầu trời Miền Bắc trong 12/1972), sau này có C- 75M (Vonga)
Những thông số chính :
- Dài : 10,6m.
- Đường kính : 0,7m.
- Nặng : 2300kg.
- Đầu đạn : 200kg HE.
- Tầm bắn : 7 - 50km.
- Bán kính tiêu diệt mục tiêu (Bán kính sát thương khi đạn nổ) : 65m.
Được hoàn thiện vào năm 1959, năm 1960 SA-2 đã lập công khi bắn rơi máy bay do thám U-2 của Mỹ. Năm 1962, cùng với SS-4 nó được triển khai tại Cuba và góp phần vào vụ khủng hoảng bằng cách bắn rơi tiếp một U-2 nữa. Gần đây một bí mật đã được tiết lộ, quả SA-2 bắn rơi chiếc U-2 là do những quân nhân Liên Xô điều khiển (trước đó LX đổ cho Cuba và Cuba không phủ nhận). Năm 1964, SA-2 đến VN và thêm vào bảng thành tích của nó những chiến công lừng lẫy đã khiến cho nó trở thành loại tên lửa phòng không đạt hiệu quả chiến đấu cao nhất từ trước tới nay.
Trong quá trình phục vụ của nó, SA-2 đã được triển khai tại hầu hết các thành phố, điểm dân cư có trên 200.000 dân của Liên Xô. Nó còn được coi là chiếc ô che chở bầu trời cho tất cả các nước thuộc khối Warsaw, đặc biệt là tại Đông Đức.
SA-2 có các biến thể A/B/C/D/E/F, trong đó SA-2E là loại có đầu đạn hạt nhân với đương lượng nổ tương đương 15KT. Nó được lắp đầu đạn hạt nhân nhằm mục đích tạo ra một vụ nổ hạt nhân trên không tiêu diệt một phi đội lớn máy bay ném bom chiến lược (được giả định là của Mỹ). Người Nga quên không tính đến tác hại của trận mưa phóng xạ nếu SA-2E nổ trên đất của họ.
Đến giờ SA-2 vẫn còn trong biên chế của Quân đội nhiều nước dù Nga đã loại nó từ lâu. SA-2 có nhược điểm là dùng thuốc phóng lỏng gồm hai chất riêng biệt mà trong nghề thường gọi là chất "O" và chất "G", những chất này cực kỳ độc hại và thường xuyên phải thay thế, tăng hạn mới có thể trực chiến lâu dài được. Một điểm yếu nữa là radar của nó rất dễ bị vô hiệu hóa khi gặp nhiễu. Hồi 1972, radar của SA-2 VN cũng từng bị vô hiệu bởi nhiễu tích cực của Mỹ và người VN vốn thông minh đã đem radar dành cho pháo cao xạ của TQ K8-60 phối hợp với tên lửa SA-2 Nga làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không". (Về vấn đề cải tiến TL để bắn B52 chính là cải tiến thay đổi dải sóng ĐK, tăng hạn đạn đã hết data, khắc phục những quả đạn bị thủng vỏ do dính bom bi.... chứ làm gì có tăng tầm hay tăng độ cao bắn, cái đó thì đến người Nga cũng chịu, trừ khi làm lại quả khác)
3, SA-3 Goa : Nga gọi là S-125 Pechora, Mỹ xếp loại SA-3, Nato gọi bằng Goa.
Những thông số chính :
- Dài 6,7m.
- Đường kính : 0,6m.
- Nặng : 400kg.
- Tầm bắn : 6 - 25km.
- Bán kính tiêu diệt mục tiêu : 12,5m.
Đây là loại tên lửa được phát triển từ V-75 SA-2, tống công trình sư là một phụ nữ, nó đã khắc phục được nhược điểm của V-75 là sử dụng nhiên liệu lỏng bằng cách chuyển sang dùng nhiên liệu rắn. Nó lại gọn nhẹ hơn nên dễ cơ động và có từ 2 hoặc 4 rãnh dẫn hướng tuỳ từng phiên bản nên nâng cao được khả năng tác chiến của một phân đội tên lửa (theo tính toán thì 1 mục tiêu cần dùng tới 3 quả đạn tên lửa mới đạt hiệu suất tiêu diệt cao). SA-3B là loại tên lửa đa dụng, có phiên bản đất- không, biển- không, phiên bản có bệ phóng cố định, bệ phóng cơ động trên xe xích, ngoài khả năng phòng không còn có thể tiêu diệt các mục tiêu mặt đất và tàu chiến. Người Nga đã đưa SA-3 vào sản xuất hàng loạt từ 1961, nhưng SA-3 đến VN rất muộn (sau 1972). Sau này (1980), Nga lại viện trợ cho VN một số tiểu đoàn S-125M Neva, loại này đã được cải tiến có 4 rãnh dẫn hướng và giảm bớt các thiết bị phụ trợ, giảm thời gian thao tác.