Tiếp
Phương Tây lần đầu tiên nhìn thấy Mig-29 khi Trung đoàn Kubinka triển khai 6 máy bay tới Ba Lan tháng 7/1986, từ đó Mikoyan-MAPO đã tổ chức phối hợp với chính phủ xuất khẩu Mig-29 cho không quân các nước XHCN và nhiều bạn hang cũ của LX. Và nó cũng bất đầu xuất hiện ở hầu hết các triển làm hàng không và thương mại quốc tế.
Sau khi Liên Xô tan rã 12/1991 tất cả số Mig-29 đang phục vụ trong không quân Xô Viết đước chia cho các nước cộng hòa tách khởi Liên Xô theo những cao sô không chính thức thì hơn 500 chiếc chuyển cho không quân Nga
Năm 1995, Klimov phát triển động tiên tiến điều khiển hướng phụt vectơ thrust-vector-control (TVC) và được lắp trên Mig-29 M là RD-133 và RD-333. Và đây là loại động cơ rất quan trong sau khi Su-27 phát triển thành SU-35 và khi có động cơ điều khiển hướng phụt đã phát triển thành Su-37 thành công và triển lãm ở Mat-xcơ-và Và Farnborough. RD-133 phát triển từ RD-33
Một số phiên bản của Mig-29
Fulcrum A: MiG-29 B ( Phương án 1, Model 9-12) là loại cơ bản có 1 ghế . Nhiên liệu được bên trong (không kể thùng dầu phụ) 7384 lbs (3200kg, hay 4300l) Một thùng nằm ở giữa chứa 2160lbs (1184kg) chiếm 40% nhiên liệu của máy bay, để nâng tầm hoạt động nó còn có thể mang thêm 2 thừng nhiên liệu phụ ở 2 bên cánh mỗi thùng 1130 l (1792kg). Những phiên bản xuất khẩu cho khối Vac-sa-va gọi là product 9-12 hay 9-12B. Rất nhiều máy bay Mig-29 Fulcrun A được nâng cấp lên chuẩn "Fatback" và tiếp tục như phương án 3 với hệ thống vũ khí chính không được nâng cấp. Điểm khác biệt chính ở phiên bản “Fatback” là ghế phóng chỗ ngồi chống đạn giống như Mig-29K và Mig-33.
Với ghế ngồi được gắn du phóng thẳng đứng trước khi bay going như của phương Tây.
Mig-29B được trang bị ra đa xung-Doppler phát hiện theo dõi và khóa mục tiêu N-019, được gọi là S-29”TOPAZ” ,phiên bản xuất khẩu trang bị rađa N-019E "RUBIN". NATO gọi là “SLOT BACK”. Loại mới hơn là N-019/3A "ZHUK" (Beetle) RLPK-29E coherent, Rađa PD nhiều kiểu có thể được chỉnh lý. Ngoài ra từ đời Mig-29 và Su-27 trở đi đều được trang bị “con ngươi” trước vòm buồng lái một điểm mới và đặc trưng của máy bay chiến đấu thế hệ 4 của Nga. “Con ngươi” là sự kết hợp giữa máy đo cự ly bằng laze KOLS (OLIS) và ISRT( tìm kiếm và theo dõi mục tiêu bằng tia hồng ngoại). Máy bay còn được trang bị động cơ RD-33, ghế phóng K-36DM/2-06.
MiG-29B có một một hệ thống radar điều khiển hỏa lực Phazotron RLPK-29 (Radiolokatsyonnyi Pritselnyi Kompleks) gồm radar xung-Doppler phát hiện theo dõi và khóa mục tiêu N-019 ((Sapfir 29; tên ký hiệu của NATO "Slot Back").và một máy tính số Ts100.02-02.
Mig-29SD(Phương án 4, product 9-12S) Với “Fatback” cải tiến từ mẫu cơ bản Mig-29A với sự hợp nhất các modul hàng không điện tử trong vào hệ thống Gardenyia-1. Tổng nhiên liệu mang được 7384 lbs. (3200 kg, 1136 US Gal, or 4300 liters) với 2610 lbs. (1184 kg, 402 US Gal, or 1520 liter) ở giữa than. Hầu hết phương án 3 mang được 2 thùng dầu phụ ở cánh mỗi thùng 1130 l. Phương án tiếp tục giống mẫu cơ bản No-193A với hệ thống vũ khí được cải tiến phụ gồm hệ thống ngắm mới (IRST) kết hợp với một hệ thống huấn luyện được trang bị tốt hơn cả Ỉ và rađa đa mục tiêu.
Mig-29S (Phương án 5, product 9-12S) phiên bản này vẫn giữ nguyên bộ khung “fatback”, nhiên liệu được tăng them một chút 76 l tổng cộng 4376 l và có khả năng mang 2 thùng dầu phụ mỗi thùng 1150 l ở hai bên cánh. Phiên bản này mang đựơc tới 8196 l. Trọng lượng cất cánh tối đa 19700kg. Phạm vi hoạt động 1,565 nm (2862 km). Được trang bị rađa N-109M “Slot Back” với khả năng khóa 10 mục tiêu với hai quả tên lửa R-77. Nguyên mẫu đầu tiên bay ngày 3/10/1980 do phi công V.M. Gorbunov lái. Với rađa cải tiến N-019M "TOPAZ" hỗ trợ rađa R-27ER và tên lửa R-27ET IR đa dạng hơn tên lửa R-27R và R-27T nguyên bản.
Mig-29SE(phương án 6, product 9-12SE) Là môdel Mig-29S duy nhất sản xuất cho không quân Xô Viết. và xuất khẩu hệ thống vũ khí đặc biệt với rađa N-019M/ME được thiết kế với khả năng theo dõi 10 mục tiêu và điêu khiển 2 tên lửa AA-12. Malaysia nhận được những chiếc Mig-29SE phiên bản không có “fatback” và phần lưng máy bay được mở rộng.
Fulcrum B: MiG-29UB (Phương án 2, product 9-03) Là máy bay huấn luyện 2 chỗ ngồi không có rađa, nhưng có hệ thống để huấn luyện ngắm ISRT. Hệ thống vũ khí vẫn như Mig-29. Khoảng 70 chiếc được cung cấp cho không quân Xô Viết và xuất khẩu cho các nước. Việc sản xuất còn hạn chế do sau đó LX mẫu mới (Phương án 3, Product 9-51) một máy bay huấn luyện tiên tiến hơn bay lần đầu ngày 29/4/1981.Và bắt đầu được sản xuất năm 1982 ở Gorkiy (Sokol). Khung máy bay dài hơn 100mm so với phiên bản thường với khoang lái của huấn luyện viên (người ngồi sau) nhỏ hơn và mang nhiều nhiên liệu hơn. Nhiên liệu mang được 7000 lbs (3175 kg, 1076 US Gal, or 4077 l). Với 2610 lbs. (1184 kg, 402 US Gal, or 1520 liter) ở trong thân máy bay và 2x1130 l ở thùng dầu treo 2 bên cánh.