Những người Bônsêvích lão thành cho rằng, đầu những năm 1930 trước năm 1937, Crúpxkaya đã thực sự bị khuất phục. Các văn bản lịch sử của chính giới không thấy đề cập đến vấn đề này - đây là một khu vực cấm của lịch sử Đảng cộng sản Liên Xô trong một thời gian dài.
Nói chung điều này đối với các sử gia cũng vậy và đối với các nhà viết tiểu thuyết cũng thế, mọi việc không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của cơ quan tuyên truyền chính giới thì đều không được lưu hành. Trong những văn kiện, tài liệu đã xuất bản không tìm thấy bất kỳ một bài nào có liên quan đến sự phân tích về đời tư của những người ở xung quanh Lênin. Nếu như chúng ta tin vào những truyện ngắn, truyện vừa thì có thể quy quan hệ cá nhân của Lênin và Crúpxkaya như sau: Trong thời gian họ bị lưu đày, họ có rất nhiều thời gian rỗi rãi, hàng ngày họ có bàn luận với nhau về chính trị, hoặc họ cùng dịch với nhau những cuốn sách tiếng Anh. Điều thật đáng tiếc là cuốn sách "Đời thường của danh nhân" còn có điểm chưa được hoàn mĩ, trong đó chỉ giới thiệu hành vi của những nhân vật ưu tú, mà chẳng đề cập đến những động cơ tâm lý của những hành động đó.
Nếu như bạn tin vào sự miêu tả Crúpxkaya như vậy ở trong các cuốn sách thì chắc bạn sẽ có nhận định rằng, trong những năm tháng cuối đời Crúpxkaya là một người cực kỳ thẳng thắn, chân thành. Trong mọi hoàn cảnh luôn là người bạn tốt thực tâm thực bụng. Có thể rất dễ dàng nhận thấy, kiểu miêu tả như vậy giống như một trò lừa bịp tinh vi được dựa theo những "khuôn mẫu” được "quy định" từ trước.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta hãy cùng xem xét các loại sách báo được xuất bản ở nước ngoài. Tuy nhiên từ năm 1990 trở đi, những sách báo đó chỉ có Liên Xô xuất bản. Nói vậy như thế có nghĩa là, chỉ có 2 tập "Stalin" của Trôtxki do nhà xuất bản Mátxcơva ấn hành.
Trong tập thứ 2 viết về những ngày cuối cùng của Lênin ở làng Goocki, tác giả viết: “Suốt ngày Lênin nhận được sự chăm sóc của vợ và em gái, hai người phụ nữ đã tận tâm, tận lực chăm sóc Người bệnh giống như trước đây họ đã từng chăm sóc khi Người còn khỏe vậy. Vợ của Lênin - bà Nađêzđa - Konxtantilốpna Crúpxkaya thực sự là người bạn đời trung thực của Lênin, từ lúc trẻ cho đến lúc già bà đã làm mọi công việc một cách không mệt mỏi". Từ khi Lênin ốm nặng, Maria Ulialốpna cũng đem toàn bộ sức lực của mình để chăm sóc cho người anh. Tính cách của bà có nhiều điểm giống với anh trai của mình đó là: Trung thành, ngoan cường, không thỏa hiệp, nhưng về tài trí bà có phần bị hạn chế. Những đặc điểm trên đây đã làm cho tính cách của Maria luôn ghen ghét với Crúpxkaya để giành lấy sự yêu quý của Lênin. Tính cách của Maria đã không ít lần làm cho Crúpxkaya phải khổ sở. Khi Lênin còn sống, Người đã chia sẻ cho hai người có quyền hành ngang hàng với nhau. Nhưng khi Lênin mất đi rồi, mọi việc đều khác hẳn. Đương nhiên bất kỳ ai trong hai người đều không thể trở thành người hiểu hết được ý chí của Lênin. Nhưng mọi người đều đã biết, hai người họ luôn ra sức để được trở thành người hiểu được ý chí của Lênin.
Về mặt chính trị thì Crúpxkaya và Lênin có mối giao kết chặt chẽ hơn nhiều so với Maria. Lênin thường đem tài liệu mật giao cho vợ bảo quản. Trên phương diện chính trị, Lênin cũng có nhiều liên hệ mật thiết với Crúpxkaya hơn Maria. Crúpxkaya hiểu rõ mười mươi việc Lênin sắp đặt cho Stalin thế nào. Trong tay bà còn nắm giữ nhiều "di chúc" chính trị của Lênin. Bà đã giao nó cho Ban chấp hành Trung ương, sau đó bà yêu cầu phải đọc trước Đại hội 12 năm 1923.
Mọi người đều nghe thấy ý kiến của Crúpxkaya và rất sợ bà. Maria ngay lập tức bị đẩy về vị trí thứ yếu của mình. Do có sự bất hòa giữa Maria và Crúpxkaya đã dẫn đến việc Maria trở thành người của Stalin. Cả hai người phụ nữ đều sống trong căn nhà cũ ở Điện Kremli, Maria ngày càng ghen ghét với Crúpxkaya. Vì những việc xung quanh bản di chúc, mà Stalin đã trút mối hận với Lênin lên đầu Crúpxkaya.
Do vậy Trôtxki cho rằng, sau khi Lênin mất nguyên nhân của thái độ không thân thiện với Crúpxkaya là do Stalin báo thù. Lep Đaviđôvích Trôtxki còn viết, nguyên nhân quan trọng nhất về hành động này của Stalin là tâm lý báo thù và hư vinh. Việc liên minh với Hítler khiến cho Stalin luôn có cảm giác đã được thỏa mãn vì đã sai khiến được mọi người đó chính là cảm giác của sự hận thù. Khi đoàn đại biểu hữu nghị của Anh, Pháp thăm Mátxcơva, Stalin đã tiến hành đàm phán với bọn quốc xã rồi đột nhiên tuyên bố ký hiệp ước với Hítler.
Những điều đó có thể thấy rõ ràng Stalin đã đánh giá thấp nguyện vọng của chính phủ Anh. Chính phủ Anh khi cùng phát triển mối quan hệ với Hítler đã liên tiếp gặp phải những trắc trở, cũng đã cố ý hạ thấp vai trò của Điện Kremli, chính vì thế Stalin đã báo thù. Thậm chí cả sự kiện ngày 20 tháng 9 năm 1939 khi Liên Xô chiếm được Riwop, hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, lần thất bại của 19 năm trước còn hằn mãi trong ký ức của Stalin. Những luận điểm và những ví dụ mà Trôtxki nêu ra trên đây có thể đồng ý hoặc không đồng ý.
Đương nhiên cũng nên nghĩ đến những tình tiết tương đối quan trọng như vậy. Trong nhiều câu chữ của mình, Trôtxki đã xen vào những sự thù hận và những ác ý cá nhân đối với kẻ thù luận chiến của Điện Kremli. Nhưng không chỉ có mình Trôtxki nhìn thấu được vấn đề, mà chính Stalin, trong mọi lúc mọi nơi cũng không khi nào quên những người đã cố ý hoặc vô ý đắc tội với mình.
Vào giữa những năm 20, Giáo sư Guegueshenz trường Đại học Cộng sản Tibilesi, trong một lần không cẩn thận đã nói ra rằng: "Stalin chẳng phải là một nhà lý luận". Sau sự việc này Giáo sư tỏ ra rất hối hận vì đã chót lỡ lời và nhiều lần tỏ ý muốn thu hồi lại câu nói, nhưng điều này đã không thể cứu nổi ông ta. Đối với những việc ở cách xa Stalin hàng trăm km, trong khi tranh luận với một cá nhân nào, cá nhân đó vì bị kích động mà nói ra một câu không cam chịu, chứ chưa nói đến những việc quan trọng hơn.
Ví dụ, bàn về di chúc của Lênin, Trôtxki chứng minh rằng, Stalin tỏ ra không quan tâm đến văn kiện này, Stalin coi bản di chúc của Lênin chỉ là những lời lẽ của người ốm chịu ảnh hưởng của "mấy mụ đàn bà". Trong một thời gian dài, cái được gọi là bản "di chúc" của Lênin được bao phủ một bầu không khí cực kỳ thần bí trong cuốn "Bàn về Stalin và chủ nghĩa Stalin". Rôxi Metvâychép viết:
Những người thu thập tài liệu giúp Stalin đều là những người đã từng bị tù đày và các đảng viên cộng sản ở các trại tập trung. Những đảng viên này bị tù tội vì "lưu giữ các văn kiện phản cách mạng, tức cái gọi là bản di chúc của Lênin". Từ giữa những năm 1930, sau khi bắt đầu có sự đàn áp với quy mô lớn, bản văn kiện này bị tuyên bố là giả tạo.
Nội dung bản "di chúc" của Lênin được chia ra làm hai phần (Phần một được viết từ ngày 26 tháng 12 năm 1922 và một phần được viết vào 4 tháng 1 năm 1923) có nội dung như sau: Kiến nghị, xem xét phương pháp điều Stalin khỏi cương vị Tổng Bí thư, đồng thời sẽ bổ nhiệm người khác đảm nhiệm cương vị này. Lênin cho rằng, quyền lực trong tay của Stalin khi được làm Tổng Bí thư là rất lớn, rất khó có thể nói rằng Stalin sẽ luôn cẩn thận khi sử dụng quyền lực này.
Hiện nay, việc nhắc lại di chúc chẳng còn ý nghĩa gì nữa, bởi vì ngày nay đã có nhiều người biết rồi. Nhưng quá trình viết và công bố đi chúc của Lênin lại là điều rất mới trong đó có nhiều chỗ "trống". Chỉ có một điểm không cần phải bàn cãi, đó là "bản di chúc" được viết trong mùa xuân năm 1923 cũng là lúc Đại hội 12 họp. Lênin đã nói lại rằng, nguyện vọng của Người là những biên bản về lời nói của Người được in ra làm 3 bản. Một bản cho bản thân Người, một bản cho Crúpxkaya, một bản dành cho thư ký của Người, Metvâychép đã khẳng định rằng, Người còn yêu cầu gắn xi niêm phong bản "di chúc" của mình, ghi rõ ngày, tháng và người duy nhất được quyền mở là Người, còn sau khi người mất phải do Crúpxkaya mới được mở nó. Nhưng M.A Vôrôchisêva, thư ký của Lênin không ghi câu này vào trong thư "sau khi Người mất" mà chỉ nói lại bằng miệng cho Crúpxkaya biết.
Nội dung bản "di chúc" được chuyển tới cho các đại biểu của Đại hội 12. Nhưng không thấy các đại biểu có thảo luận gì xung quanh vấn đề điều chỉnh chức Tổng Bí thư của Stalin. Và bức thư cửa Lênin chuyển tới cho các ủy viên Trung ương cũng không được đọc. Sở dĩ có những việc như vậy là do trong khi chấp hành những chỉ thị của Lênin đã xuất hiện những việc ngoài dự đoán. Vấn đề là ở chỗ, người được quyền mở bức thư có gắn xi lại chỉ có thể là Lênin, thế nhưng Lênin lúc đó đang bị liệt, Người không nói được, mà Crúpxkaya cũng không làm việc này được, do vậy mà cứ theo ý nguyện của Lênin thì chỉ khi nào Người mất mới được quyền mở nó. Vậy là phong bì có văn kiện tuyệt mật này đã được cất kỹ đúng một năm. Liệu Stalin có biết về những bức thư này? Về việc này cũng có nhiều nhận định khác nhau. Có nhận định cho là Stalin đã biết được việc này thông qua lời kể của Vôrôchisêva, có một lần bà thư ký này đã buột miệng nói ra là Lênin có một bản "di chúc".
Sau khi biết được việc này, Crúpxkaya đã hết sức ngăn cản để không cho Stalin tiếp xúc với Lênin lúc này đang bị liệt. Do đó Stalin lúc này nuôi ý đồ sẽ có một ngày hỏi thẳng vấn đề này với Lênin. Trước khi Lênin mất một năm, Người đã bắt Crúpxkaya đem bức thư gắn xi đó đến nhưng Crúpxkaya đã không dám vi phạm di chỉ của Lênin. Kiểu nhận định thế này được lưu truyền rộng rãi trong giới phụ nữ, nhất là vào giữa những năm 50, tin tức này còn được nhanh chóng lan truyền trong các giáo viên trường học cấp tỉnh.
Còn kiểu nhận định thứ 2 là, do Stalin không nắm chắc được là bản "di chúc" đó như thế nào, nhưng Stalin luôn nghi ngờ và rất cẩn thận chỉ cần một vài hành động miễn cưỡng là Stalin có thể gián tiếp phát giác đoán ra là Lênin đang giữ bản "di chúc". Vậy trên thực tế là thế nào - điều này rất khó nói ra.
Và vẫn còn loại nhận định thứ 3 là: Stalin không biết Lênin có di chúc. Tán thành kiểu nhận định này chỉ có Bachanốp, người đã từng là thư ký của Bộ chính trị, đã trốn ra nước ngoài.
Trong hồi ký của mình, ông ta viết trước ngày khai mạc Đại hội 13 của Đảng, Crúpxkaya một người luôn mạch lạc trong công việc đã mở "quả bom" (di chúc) đựng trong chiếc phong bì của Lênin đưa cho Ban chấp hành Trung ương Đảng, lúc này Mêkhơních đã đem lại nội dung văn kiện báo cáo với Stalin, trong văn kiện Lênin đề nghị miễn trừ chức vụ Tổng bí thư của Stalin. Stalin đã dùng lời lẽ cực kỳ khó nghe chửi mắng Crúpxkaya, rồi chạy đến thương lượng với Zinôviép và Camênhép.
|