I. Thông tin tổng quát
Đối với hầu hết những người nước ngoài, Họ thường liên tưởng đến nước Nga với hai thành phố chính, Moskva và St. Petersburg. Đây là những khu trung tâm của đế quốc Nga thời trước, và cũng là những thành phố cổ kính nhất của nước Nga, các thành phố này thường được các lữ khách dừng lại để tham quan và du lịch. Thành phố Moskva thì có những nhà thờ truyền thống cổ kính và có cung điện Kremlin trang lệ, còn Saint Petersburg, được xem là một thành phố mang đậm nét châu âu nhất trong các thành phố của toàn nước Nga. Tuy nhiên trong bài viết này, chúng ta tập trung đi sâu nhiều hơn về nước Nga, một đất nước được kéo dai đến mười một múi giờ và xuyên suốt hai lục địa, phần cuối của nước Nga chỉ cách Bắc Mỹ với một khoảng cách gần 50 dặm. Diện tích nước Nga bao trùm lên những vùng chính của Đông Âu và Bắc Á, tiếp giáp với biển Bắc cực, nằm giữa châu Âu và bắc Thái Bình Dương. Nằm giữa dải đất rộng lớn này là những vùng thiên nhiên kỳ thú như; một vùng hồ nước ngọt lớn nhất thế giới – Hồ Baikal, những con sông xanh thắm, những khu rừng bát ngát mơn man, nước Nga còn phong phú về những loài cá và những loài động vật hoang dã, ở đất nước này còn có đỉnh núi cao nhất châu Âu – núi Elbrus, những núi lửa kinh hoàng, và nhiều những rặng núi cao chót vót. Nét đặc trưng của địa hình vùng đồng bằng rộng lớn với những ngọn đồi thấp ở phía tây dãy Ural – là những khu rừng tùng bách bao la, và vùng lãnh nguyên Siberia – là những vùng cao và những dãy núi dọc theo các vùng biên giới phía nam. Nước Nga là một đất nước rộng lớn nhất trên thế giới, với những vùng đất rộng mênh mông vừa mới được mở cửa, để đón chào các lữ khách đến du lịch trong vòng vài năm gần đây.
Nước Nga là một chính phủ liên bang, gồm có 49 vùng (oblast), 21 nước cộng hòa, 10 khu tự trị, 6 krai, 2 đô thị liên bang và 1 vùng (oblast) tự trị. Sau khi Liên Xô tan ra vào năm 1991, nước Nga vẫn còn phải chật vật để củng cố nền kinh tế thị trường, hiện đại hóa nền tảng công nghiệp và duy trì sự phát triển kinh tế bền vững. Trong giai đoạn 1992 – 1998, nước Nga được ghi dấu như là một thời kỳ hoàn cảnh kinh tế ngèo nàn, cuộc sống của dân chúng quá tồi tệ và nhiều chính sách của nhà nước ban hành đều bị thất bại. Nhưng các tình trạng xuy thoái đã được cải thiện rõ rệt vào giai đoạn những năm 1999-2002, với sản lượng tăng vọt hàng năm trung bình lên đến 6% và với những tiến triển cải cách được gia tăng mạnh mẽ. Nước Nga có một nền tài nguyên thiên nhiên rộng lớn, bao gồm những trầm tích chủ yếu như dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá, nhiều khoáng sản chiến lược và gỗ.
Nước Nga ngày nay trở thành một quốc gia mang tính đa dạng, và có sinh lực dữ dội. Những nét truyền thống văn hóa Nga đã được khơi dậy với sức sống mới đầy mạnh mẽ. Những công trình kiến trúc cổ đại và những Thánh đường hư hỏng trên toàn nước Nga, hiện đang được tu bổ và sửa chữa lại. Những thị trường đa màu sắc lại được hoạt động nhộn nhịp trở lại, văn học và nghệ thuật của nước Nga cũng đã nhanh chóng lấy lại được sức mạnh vốn có của chúng. Một nước Nga mới hiện đang thời kỳ tươi đẹp nhất. Những lữ khách thập phương, ngày càng được thu hút đến với nước Nga nhiều hơn bởi những người Nga đôn hậu và mến khách, bởi nền văn hóa vĩ đại của nước Nga, bởi tính đa dạng của thiên nhiên, những vùng đất trải dài vô tận, những khu rừng xanh thắm ngút ngàn tuyệt đẹp, những dãy núi, những vùng hồ, những nhịp đập rộn ràng của các thành phố sinh động và tươi sáng, những nhịp điệu êm đềm và yên bình của các cuốc sống nơi thị trấn, làng mạc và các vùng hẻo lánh của nước Nga.
Các đặc điểm của nước Nga
Vị trí : Nằm ở các vùng Đông Âu và Bắc Á, tiếp giáp với biển Bắc cực, nằm giữa châu Âu và bắc Thái Bình Dương.
Diện tích:Tổng cộng - 17,075,200km vuông.
Diện tích mặt nước: 79,400 km vuông
Diện tích đất liền: 16,995,800 km vuông.
Chiều dài đường biên giới: 19,990km.
Đường biên giới của nước Nga tiếp giáp với các nước:
Azerbaijan 284 km, Belarus 959 km, đông nam Trung Quốc 3,605 km, phía nam Trung Quốc 40 km, Estonia 294 km, Phần Lan 1,313 km, Georgia 723 km, Kazakhstan 6,846 km, Bắc Triều Tiên 19 km, Latvia 217 km, Lithuania (Kaliningrad Oblast) 227 km, Mông Cổ 3,485 km, Na Uy 196 km, Balan (Kaliningrad Oblast) 206 km, Ukraina 1,576 km.
Bờ biển dài: 37,653 km
Địa hình: Nước Nga có vùng đồng bằng mênh mông với những ngọn đồi thấp ở phía tây dãy Ural: những khu rừng và các vùng lãnh nguyên có loại thực vật tùng bách bao phủ rộng lớn ở Siberia; những vùng cao và các dãy núi dọc theo các vùng biên giới phía nam.
Độ cao: Điểm thấp nhất của nước Nga là vùng biển Caspi – 28m. Điểm cao nhất là đỉnh núi Elbrus – 5.633m.
Tài nguyên thiên nhiên: Nước Nga có những vùng tài nguyên thiên nhiên bao gồm những trầm tích chủ yếu như; dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, than đá và những khoáng sản chiến lược, gỗ rừng.
Dân cư: Dân số nước Nga tính đến tháng 7 năm 2002 là 144,978,573 người.
Dân tộc: Người Nga chiếm 81.5% dân số ở nước Nga, người Tatar 3.8%, Ukrainia 3%, Chuvash 1.2%, Bashkir 0.9%, Belarusia 0.8%, Moldavia 0.7%, các dân tộc khác 8.1%
Tôn giáo: Đạo chính thống Nga, Hồi giáo, và các đạo giáo khác.
Hệ thống chính quyền:
Thủ đô: Moskva.
Các khu vực hành chính: nước Nga gồm có 49 vùng (oblast), 21 nước cộng hòa, 10 khu tự trị, 6 krai, 2 đô thị liên bang và 1 vùng (oblast) tự trị.
Ngày hội dân tộc: Ngày hội Nga – 12 tháng 6 (1990).
Hiến pháp: Được thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1993.
Hệ thống pháp luật: nước Nga dựa theo hệ thống luật dân sự.
Quốc kỳ: Quốc kỳ của nước Nga được thể hiện bởi ba dải màu nằm ngang bằng nhau, màu trắng bên trên, ở giữa là màu xanh và màu đỏ phía dưới.
Biểu tượng: Biểu tượng của nước Nga là hai con chim đại bàng.
Linh vật tượng trưng: một con gấu.
Tổng quan nền kinh tế: Nước Nga đang phấn đấu thành lập nền kinh tế thị trường, hiện đại hóa nền tảng công nghiệp, và duy trì sự phát triển kinh tế bền vững một cách mạnh mẽ.
Các bến tàu và hải cảng: Aleksandrovsk-Sakhalinsky, Arkhangelsk, Astrakhan, De-Kastri, Indigirskiy, Kaliningrad, Kandalaksha, Kazan, Khabarovsk, Kholmsk, Krasnoyarsk, Lazarev, Mago, Mezen', Moscow, Murmansk, Nakhodka, Nevelsk, Novorossiysk, Onega, Petropavlovsk-Kamchatskiy, Rostov, Shakhtersk, Saint Petersburg, Sochi, Taganrog, Tuapse, Uglegorsk, Vanino, Vladivostok, Volgograd, Vostochniy, Vyborg.
Các sân bay: Nước Nga có tổng cộng 2.743 sân bay – tính đến năm 2001.
|