|
Forytchia viết
Những cảm xúc sâu lắng cùng “Đàn sếu”
“Đàn sếu” là một trong số các tác phẩm thơ của Vladimir Nabokov. Ông viết bài thơ này vào một ngày tháng mười mùa đông năm 1918. Đã gần một thế kỷ trôi qua mà những gì tác muốn giả gửi gắm ở “Đàn sếu” vẫn không hề xưa cũ, ngay cả đối với thế hệ độc giả yêu thơ hôm nay:
ЖУРАВЛИ
Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли
и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918
Các phương án dịch:
ĐÀN SẾU
1.
Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội,
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.
Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.
(Tạ Phương)
2.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu
Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !
(Minh Nguyệt)
3.
Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.
Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.
(Quỳnh Hương)
4.
Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.
Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.
(Thu Hương)
5.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua
Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...
(Phan Chí Thắng)
6.
Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời
Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ
(Lưu Hải Hà)
7.
Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng
Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.
(Nguyên Hùng)
Mỗi bản dịch trên đây, với giọng văn và cảm xúc riêng của người dịch, đã cho ta thấy nhiều góc nhìn về bài thơ, nhưng đều toát lên được tình cảm nhớ nhung quê hương của tác giả thông qua hình tượng đàn sếu di trú.
Để hiểu sâu sắc một bài văn, bài thơ nào đến tận cùng cội rễ ta đều nên tìm hiểu hoàn cảnh xuất xứ ra đời của nó. Ở bài thơ “Đàn sếu” cũng không là một ngoại lệ. Tác giả bài thơ sáng tác vào thời điểm tháng mười – khi ấy mùa đông lạnh lẽo đang tràn về; những đàn chim di trú mắt nhắm nghiền từng đàn theo quy luật của tự nhiên bay từ miền bắc về phương nam ấm áp hơn, bắt đầu rủ nhau đi tránh rét. Tác giả mượn hình ảnh đàn chim này chính là nói lên nỗi lòng mình khi biết rằng rồi mình cũng như đàn chim kia: bay đi nhưng sẽ trở về dù có thể chỉ là trong tâm khảm, tuy phải tạm xa mảnh đất quê hương nhưng quê hương vẫn nhớ khắc sâu trong tim.
Đàn chim sếu hay chính là bản thân tác giả trước khi ra đi chuẩn bị thật sự rời xa tổ quốc như tự nhủ với chính lòng mình “Ra đi nhưng lòng vẫn mãi nhớ về quê hương”. Một nhà văn Nga (sống lưu vong ở Italia) cũng đã từng thốt lên những lời yêu thương dành cho tổ quốc của mình, đại ý: “Dưới đế giày của tôi luôn luôn có những hạt đất của nước Nga”- dù có ở đâu hay đi bất cứ nơi nào thì tổ quốc vẫn sẽ ở mãi trong tâm trí.
Ở khổ thơ đầu, hình ảnh “cánh rừng thưa xào xạc lá vàng” và” tiếng biển ngân vang “ hòa với nhau thành bài ca ca ngợi mảnh đất quê hương ở Nga rất đặc trưng. Thời tiết vào mùa đông thường hay ảm đạm nhưng với tác giả thì hai hình ảnh ấy vẫn ngời ngời trong tâm tưởng vì chẳng đâu đẹp hơn quê mình, tổ quốc mình. Hình ảnh siêu thần ấy chỉ ở nơi quê hương là đẹp đẽ nhất bởi hai chữ Quê Hương viết hoa luôn ngự trị trong trái tim một người con khi sắp phải rời ra nơi đó. Tác giả nhân cách hoá “đàn sếu” cũng biết “ thẫn thờ” lưu luyến đầy vơi như tình cảm con người khi biết mình sắp phải tạm biệt những điều yêu thương gần gũi từ thuở nào. Trạng thái này xảy ra khi đàn chim đang chuyển động dần xa, tác giả dùng hai từ này quả là quá tuyệt. Bạn ơi, hãy cho tôi mượn chiếc khăn màu thời gian để thấm những giọt tâm hồn như đang ngây ngất khi nghe cách thể hiện tình cảm của V. Nabokov với quê hương mình.
Khi hiểu xuất xứ bài thơ, đứng trên góc độ cách cảm nhận đồng điệu ấy, những người dịch thơ và các bạn đọc thơ sẽ thấy được những điều ẩn chứa trong hình ảnh đàn sếu, và nhất là ở hình ảnh hai con rốt đàn, vô cùng cảm động! Hình ảnh cực kỳ đắt là khi hai chú chim (trước khi bay khuất vào làn mây) ngoái lại đầy quyến luyến để gửi gắm lời nhắn nhủ lần cuối “Em sẽ mãi hằng nhớ anh, nhớ mãi mảnh đất này”. Tác giả sử dụng phương pháp nhân cách hóa quá tuyệt vời ở hai câu kết, lời của chim sếu băng qua muôn trùng mây, muôn ngàn gió vọng đến vẫn ấm nồng gửi lại mảnh đất thân quen ấy một lời khắc khoải.
|