View Single Post
  #242  
Cũ 06-08-2008, 00:21
Old Tiger's Avatar
Old Tiger Old Tiger is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Jan 2008
Bài viết: 3,326
Cảm ơn: 10,572
Được cảm ơn 10,594 lần trong 2,456 bài đăng
Default

Thưa các bác!

Mấy ngày nay em được vinh dự làm việc với Tiến sỹ Trương Đình Hiển, nhân dịp ông được Hãng phim tài liệu TƯ đang làm phim về NMLD mời ra để quay ổng. Ông chính là người đã tìm ra các cảng biển lớn ở miền Trung, gắn liền với những khu kinh tế quan trọng như Dung Quất, Nhơn Hội, Chân Mây... (trong kịch bản phim còn có một nhân vật quan trọng khác là Cụ Võ Văn Kiệt, nhưng rất tiếc là cụ Kiệt dù đã hứa sẽ ra miền Trung 4 ngày để cho quay phim, nhưng cụ lại ra đi đột ngột).

Làm việc với ông Hiển, niềm tin về sự đúng đắn phát triển kinh tế của miền Trung trong đó có NMLD DUng Quất của Hổ già tôi càng thêm được củng cố.


Mặc dù đã trích dẫn ở trang 3, nhưng tôi rất muốn các bác, nhất là bác nthach đọc lại một số đoạn viết về con người không giống ai này. Một nhà khoa học thực sự thưa các bác!
Một bài phỏng vấn ông Hiển:

"Khi các phương tiện thông tin đại chúng nói quá nhiều về một miền Trung bão lũ, đói nghèo, vô tình đã quảng bá về miền Trung như một địa chỉ từ thiện, và như thế không thể là vùng đất để làm ăn." Tiến sĩ Trương Đình Hiển đã có những ý kiến đáng chú ý về tiềm năng và hình ảnh của vùng đất này.
Là một chuyên gia về vật lý hải dương và công trình biển, TS Trương Đình Hiển chính là người đã tìm ra các cảng biển lớn ở miền Trung, gắn liền với những khu kinh tế quan trọng như Dung Quất, Nhơn Hội, Chân Mây...

Ông là người có nhiều đóng góp cho kinh tế miền Trung. Ông có suy nghĩ như thế nào về vùng đất này?

Muốn biết miền Trung, cần phải nhìn lại nó trong suốt cả quá trình lịch sử của đất nước. Miền Trung luôn là vùng đất sản sinh những anh hùng hào kiệt, kinh bang tế thế: Nguyễn Huệ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng... Hầu hết các di sản văn hóa nhân loại ở Việt Nam đều nằm ở vùng đất này.

Khi các phương tiện thông tin đại chúng nói quá nhiều về một miền Trung bão lũ, đói nghèo, vô tình đã quảng bá về miền Trung như một địa chỉ từ thiện, và như thế không thể là vùng đất để làm ăn.

Về địa lý, miền Trung là “mặt tiền” của VN, của Đông Nam Á và cả châu Á - Thái Bình Dương. Ngày nay, vị trí địa lý quan trọng hơn cả tài nguyên. Chẳng hạn Singapore, họ không có tài nguyên nhưng nhờ vị trí địa lý, họ trở nên giàu có. Lâu nay ta cứ ca cẩm thời tiết miền Trung khắc nghiệt. Cứ thử so sánh thời tiết các nước quanh ta sẽ thấy bất lợi về thời tiết của miền Trung chưa có gì là lớn. Nhật Bản, Indonesia thì động đất liên miên; Philippines quanh năm bão tố; lũ lụt thì Trung Quốc còn ghê gớm hơn... Nhưng họ vẫn cứ phát triển.

Vậy tại sao miền Trung vẫn đói nghèo triền miên?

Đấy là kết quả của đường lối bế quan tỏa cảng, tự cung tự cấp, tự cấm vận chính mình qua nhiều thế kỷ. Giống như nhà mặt tiền đường Nguyễn Huệ (TP.HCM) đáng giá ngàn vàng nhưng lại đóng cửa nuôi heo thay vì bung ra buôn bán, kinh doanh, làm sao mà giàu được? Nền kinh tế lạc hậu gắn liền với kinh tế nông nghiệp, mà nông nghiệp ở miền Trung không phát triển được như Bắc bộ, Nam bộ nên vị trí của nó trở nên thứ yếu.

Nếu đặt đúng vị trí của miền Trung thì phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển thương mại và du lịch dịch vụ. Đường lối này đang là vận hội của miền Trung, mở ra một bước ngoặt lịch sử để miền Trung phát triển và tiến kịp hai đầu đất nước.

Ông là người tìm ra các cảng Chân Mây, Dung Quất, Nhơn Hội. Ông có ý kiến thế nào về nhận xét: miền Trung tỉnh nào cũng xây dựng cảng nên không có cảng lớn?

Câu hỏi tại sao miền Trung xây dựng nhiều cảng biển mà không tận dụng hết, tức là lâm vào sự hoài nghi “quả trứng có trước hay con gà có trước”. Muốn mời gọi đầu tư mà không có hạ tầng thì ai vào đầu tư? Cứ nghĩ miền Trung có nhiều cảng, thiếu hàng hóa, không hiệu quả là không nhìn thấy toàn cục. Bởi cảng miền Trung không phải chỉ xuất nhập hàng cho riêng vùng này, mà phải tính đến cả tiểu vùng sông Mekong thông qua hành lang kinh tế đông - tây nối với châu Á - Thái Bình Dương và thế giới bên ngoài. Cả miền Trung có bốn cảng có giá trị, sau này kết nối với tiểu vùng sông Mekong sẽ còn phải mở thêm nữa.

Tôi nghĩ điều cần phải làm ngay là chỗ nào nuôi được gà thì nuôi gà, chỗ nào ấp được trứng thì ấp trứng; chỗ nào làm được cảng thì xây cảng; chỗ nào phát triển công nghiệp thì làm nhà máy; địa phương nào đầu tư du lịch thì đầu tư... Từ đó hợp lực lại để có sự phát triển đúng hướng.

Ông vừa nói rằng miền Trung có vị trí lịch sử, địa lý rất thuận lợi, nhưng sao các nhà đầu tư nước ngoài vẫn e ngại đến miền Trung?

Có một định kiến từ trong quá khứ kéo dài đến bây giờ, đó là hình ảnh: miền Trung đói nghèo và thiên tai hoành hành. Điều đó đồng nghĩa: làm ăn ở miền Trung ít lợi, lắm rủi ro. Mà nhà đầu tư thì rõ ràng là muốn vào chỗ nào thu được lợi nhuận và ít rủi ro. Bởi vậy người ta nhắm vào khu vực Hà Nội và TP.HCM. Vấn đề quan trọng nữa là tính liên kết giữa các địa phương miền Trung còn rất yếu, điều này chẳng khác nào chúng ta tự cấm vận mình.

Thưa ông, trong sự nghèo khó của miền Trung có nguyên nhân từ con người?

Xã hội muốn phát triển luôn cần những con người thế này: trước nhất là người biết dùng người, biết tập hợp con người, đó là người lãnh đạo giỏi, có tâm và có tầm. Thứ hai, là các nhà khoa học, nhà kỹ thuật, nhà trí thức. Ba là những người thợ lành nghề. Nhưng ở miền Trung, loại người thứ nhất, ai có thể trả lời là có và có đủ. Không có những con người biết tập hợp thì sẽ không thu hút được đội ngũ thứ hai. Vì thế người tài của miền Trung cứ chạy về hai đầu đất nước. Nếu miền Trung tập hợp được nhân tài, cùng với các chính sách khuyến khích thì không khó để phát triển.

Phân tích tình hình cụ thể của miền Trung thì vùng đất này đang bùng nổ về kinh tế. Cách đây mười năm, đầu tư vào miền Trung chỉ khoảng vài chục triệu USD, nay chỉ riêng Dung Quất đã thu hút 4-5 tỉ USD. Như vậy, nguồn vốn đầu tư không phải là khó khăn, mà đòi hỏi của miền Trung chính là nguồn nhân lực, nhân tài. Nghiệp lớn mà không có đủ con người thì làm sao?

Người đi mở cảng

Ngồi kể lại chuyện xưa, tiến sĩ Hiển tâm sự: khu kinh tế cảng - lọc dầu Dung Quất giờ đã đi được bước dài, nhưng thuở đầu nhóm ông phải đối mặt với nhiều chông gai để nó được hình thành. Khi nghe ông trình nguyện vọng phải làm cú đột phá cho miền Trung, một lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi lúc đó cảm ơn ông rồi nói: “Năm đoàn khảo sát đã về địa phương nhưng đều phải ra đi tay không”. Đầu tiên là đoàn khảo sát ngành dầu khí để lại công văn: “Quảng Ngãi có 130km bờ biển nhưng không có cảng biển nước sâu để làm nhà máy lọc dầu”. Còn đoàn khảo sát giao thông cho rằng Quảng Ngãi chỉ có mỗi cảng biển Sa Kỳ mà sau này người dân đã cười ra nước mắt gọi là cảng “sa lầy” vì tàu lớn không thể vào được...

Thấy tiến sĩ Hiển vẫn quyết tâm quẩy balô đi ra biển, một lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi đành nói: “Rất cảm ơn anh. Nhưng tỉnh nghèo, không có kinh phí tài trợ đâu nhé”. Thậm chí mấy lần lọ mọ chụp ảnh, khảo sát ở bãi hoang Dung Quất, tiến sĩ Hiển còn bị lính biên phòng bắt về đồn vì nghi là gián điệp. Khi biết các nhà khoa học muốn xây dựng cảng biển ở nơi này, họ và dân địa phương nhiệt tình giúp đỡ.

Có ngày ở bãi biển không kiếm được quán ăn nào, một ông già địa phương mời tiến sĩ Hiển về nhà ăn cơm. Nhưng khi mở nắp nồi thì chỉ có khoai mì luộc chấm muối, tiến sĩ Hiển ứa nước mắt nói với ông già tốt bụng: “Tụi con sẽ cố làm để tương lai bà con miền này không còn bữa đói bữa no nữa”.

Những ngày cuối cùng khảo sát, tính toán thành công các thông số lý tưởng để xây dựng cảng Dung Quất, tiến sĩ Hiển cùng cộng sự và dân địa phương rất vui mừng. Tuy nhiên, sau khi đọc báo cáo của họ, lãnh đạo địa phương lại tỏ ý hoài nghi. Một vị điện thẳng cho tiến sĩ Hiển: “Báo cáo của các anh đọc rất hay, nhưng chúng tôi e không khả thi...”.

Tiến sĩ Hiển điềm tĩnh trả lời: “Dung Quất không phải là cái gì trừu tượng, mơ hồ. Nó là biển, là bờ có thể khảo sát, đo đạc tính toán được. Nếu không tin, anh cứ mời các nhà khoa học nước ngoài phản biện. Nếu sai, tôi sẽ cúi đầu xin lỗi nhân dân Quảng Ngãi”. Sau đó, nhóm của ông còn phải tranh luận với nhiều ý kiến khác, kể cả một số cán bộ cấp cao.

Chính ông đã bác bỏ việc xây dựng nhà máy lọc dầu ở Long Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu) vì thiếu cảng biển nước sâu. Ông cũng không đồng tình đưa nó về Vân Phong (Khánh Hòa) vì tin rằng ngành du lịch sẽ trả giá đắt cũng như mặt bằng nơi này không đủ để xây dựng một khu kinh tế cảng qui mô...

Khi đoàn nghiên cứu độc lập của Nhật khảo sát Dung Quất khẳng định: “Đây là vị trí thích hợp để không chỉ xây dựng cảng biển lớn nhất VN mà còn tầm cỡ thế giới, thậm chí lớn hơn cả cảng quốc tế Nagoiya của Nhật” thì các ý kiến trái ngược mới xuôi chiều. Đặc biệt, nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó trực tiếp vào Dung Quất và quyết tâm chọn đề án của tiến sĩ Hiển (mà sau này báo cáo trước Quốc hội, ông Kiệt vẫn khẳng định nếu chọn lại ông vẫn chọn Dung Quất). Tâm sự với các nhà khoa học, nguyên thủ tướng nói ông vui không ngủ được vì trước đây vấn đề phát triển kinh tế miền Trung theo hướng nào luôn là bài toán khó giải của nhiều thế hệ lãnh đạo VN.

Từ thành công Dung Quất, nhóm Trương Đình Hiển, Bùi Quốc Nghĩa, Trần Văn Sâm tiếp tục lặng lẽ đi thực địa, tìm ra hai cảng Chân Mây ở Thừa Thiên - Huế và Nhơn Hội ở Bình Định. Quan điểm ngược xuôi không còn nhiều gay gắt nữa. Mọi người đã thấy rõ Chân Mây - Dung Quất - Nhơn Hội là một liên kết hoàn hảo để tạo thành tuyến khu kinh tế trọng điểm miền Trung. Về sau, khi hành lang đông - tây nối liền đường bộ từ Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Malaysia, Ấn Độ... ra cửa biển miền Trung VN và ngược lại thì mọi người càng tin đã đúng khi chọn lựa Dung Quất, Chân Mây và Nhơn Hội.

Tầm nhìn đại dương

Buổi sáng đầu năm, người đàn ông 70 tuổi mê hoa đào và đại dương này kể mình cùng cộng sự đã thực hiện gần 150 công trình nghiên cứu với 25.000 trang giấy dày đặc số liệu khảo sát từ thực địa chứ không phải trong phòng thí nghiệm. Ông nghĩ con đường của mình vẫn đang trải dài phía trước với bao việc phải làm.

Là một nhà nghiên cứu đại dương, ông tin tương lai VN sẽ hướng ra biển. Các cảng Dung Quất, Chân Mây, Nhơn Hội chỉ là khởi đầu. Và dù khởi đầu đó còn vướng vấp trục trặc, nhưng chắc chắn chúng sẽ là tiền đề tạo thành các khu kinh tế biển năng động cho VN. Ông nói: “Tôi tin rằng đất nước chúng ta với bờ biển dài hơn 3.260km trải dài từ Nam ra Bắc thì tương lai thế kỷ 21 của dân tộc sẽ hướng ra đại dương. Nơi đó không chỉ có tôm cá, tài nguyên dầu khí mà còn có những con đường bao la cho chúng ta cơ hội hòa nhập và giao thương sâu rộng với thế giới...”.

Suốt 45 năm cống hiến, ông có nhiều bạn bè tâm huyết nhưng cũng bị không ít người chê. Chính vì theo khoa học nên ông tin cái gì đúng là đúng, sai là sai, không thể trắng đen lẫn lộn được. Và cũng vì thế mà ông đã nhiều lần tự nhiên đứng vào nhóm những người phản biện “khó chịu”. Ngay từ khi đề án cải tạo kênh Nhiêu Lộc còn trên giấy, ông đã thẳng thắn phản biện quá nhiều “vấn đề” của nó.

Bây giờ, tiến sĩ Hiển đang cùng các cộng sự nghiên cứu sông Gò Gia để xây dựng khu kinh tế cảng lớn ở TP.HCM. Đề án ông làm “đụng” trực diện với các đề án khác đang được tiến hành mà ông tin rằng có vấn đề về kỹ thuật. Và ông cũng đã phải nhận những lời hăm he.

Nghe tôi hỏi có bao giờ ông bối rối trước các mâu thuẫn, xung đột đang đầy rẫy trong “cõi người ta” này, tiến sĩ Hiển chỉ đứng lặng lẽ ngắm cành hoa đào rồi mỉm cười thanh thản rằng: “Đời người cũng ngắn ngủi như một cánh đào. Vậy thì cứ sống làm người cho trọn vẹn, cho có ý nghĩa đi. Ai đã dám bước ra biển lớn rồi thì đâu sợ sóng sông hồ lao xao nữa...”.

Những cái nhìn sai lệch về miền Trung:

một số nhà chính trị và khoa học còn nói thẳng: “Miền Trung bão tố khắc nghiệt. Xứ chó ăn đá, gà ăn cát, con bò to bằng con chó, chỉ nên theo các nghề truyền thống là đánh bắt hải sản, trồng mì, khoai lang và... nhận viện trợ trung ương”.


Hổ già tôi xin giới thiệu thêm:
Nhưng cái nhìn khác về miền Trung:


Cần có một tư duy khác để phát triển miền Trung. Tư duy đó cần tính đến không gian phát triển của cả khu vực 3 nước Đông Dương, khu vực Đông Nam Á. Nhìn ở khía cạnh này, miền Trung lại là nơi đắc địa để phát triển các ngành công nghiệp nặng từ sắt thép, hoá dầu, cơ khí chế tạo, đóng tàu

Sống chung với bão lũ... Bình thường!

Ông Nguyễn Văn Mễ- Chủ tịch HĐND tỉnh TT- Huế từng trao đổi: Miền Trung hay gánh chịu nhiều thiên tai, bão lũ. Điều đó đúng nhưng chúng ta cứ thổi phồng, “quảng bá” vấn đề này quá mức thì cái lợi trước mắt được hỗ trợ, tài trợ, cứu giúp sẽ không bằng cái hại lâu dài là các nhà đầu tư nghe đến miền Trung là… sợ!

Cùng ý kiến này, Tiến sĩ Trương Đình Hiển- nghiên cứu viên cao cấp, chuyên gia cảng biển miền Trung phát biểu tại Hội nghị Hội An (tháng 5/2007): Nhật Bản, Indonesia động đất liên miên. Philippines quanh năm bão tố. Lũ lụt thì Trung Quốc ghê gớm hơn. Hạn hán thì các nước Trung Á luôn gánh chịu nặng nề… nhưng họ cứ phát triển! Và ông kết luận “Thời tiết miền Trung không có gì là khắc nghiệt”.

Không những… không sợ bão lũ, miền Trung còn là một địa chỉ vàng cho các nhà đầu tư. Chủ tịch Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam- Tiến sĩ Vũ Tiến Lộc từng phát biểu, trong giai đoạn hiện nay “cần có một tư duy khác để phát triển miền Trung. Tư duy đó cần tính đến không gian phát triển của cả khu vực 3 nước Đông Dương, khu vực Đông Nam Á. Nhìn ở khía cạnh này, miền Trung lại là nơi đắc địa để phát triển các ngành công nghiệp nặng từ sắt thép, hoá dầu, cơ khí chế tạo, đóng tàu…”.

TS Trương Đình Hiển cũng thống nhất: Miền Trung không chỉ là “mặt tiền” của Việt Nam mà còn là “mặt tiền” của Đông Nam Á và Châu Á- Thái Bình Dương. Ngày nay, vị trí địa lí quan trọng hơn tài nguyên. Singapore là một điển hình, tài nguyên không có nhưng nhờ vị trí địa lí họ trở thành con rồng châu Á!

Miền trung công nghiệp hóa

Xu hướng biến miền Trung từ một thị trường tiêu thụ trở thành “đại công trường sản xuất” đang ngày trở nên rõ nét. Nếu trước năm 1975, nói về miền Trung người ta chỉ biết đến đó là “vùng đất nghèo- một vụ lúa, một vụ rau”, cơ sở công nghiệp hầu như mỗi tỉnh chỉ có nhà máy nước với nhà đèn (nhà máy điện), khá hơn như Đà Nẵng có thêm Nhà máy dệt Hoà Thọ, thế mà bây giờ, 31 năm sau hàng nghìn cơ sở công nghiệp lớn, nhỏ, từ thủ công đến hiện đại ra đời. Về phía Chính phủ, nhiều dự án lớn trị giá hàng chục nghìn tỉ đồng đổ vào miền Trung không hề tiếc. Như dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, hầm đường bộ Hải Vân, Sân bay quốc tế Đà Nẵng, Phú Bài, Khu công nghiệp- cảng biển Vũng Áng (Hà Tĩnh) Chân Mây- Lăng Cô (TT- Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Lao Bảo (Quảng Trị)…

Các DN trong nước, nước ngoài cũng không hề chậm chân: Đóng tàu, làm cảng có Tập đoàn Vinashin ở Quảng Ngãi, TT- Huế, Quảng Trị…, Hyundai (Hàn Quốc )ở Khánh Hoà; xi măng có Tập đoàn Lusk (Hồng Kông); đường có Tập đoàn KCP (Ấn Độ), tài chính- hạ tầng- du lịch có Vinacapital, sản xuất lắp ráp ô tô có Trường Hải… Chính từ những biến chuyển tích cực trên nên giá trị sản xuất công nghiệp của các tỉnh thành miền Trung mấy năm gần đây tăng trưởng vượt bậc.

Như Đà Nẵng, TP công nghiệp dẫn đầu miền Trung giá trị sản xuất công nghiệp 7 tháng đầu năm đạt gần 5.500 tỉ đồng, tăng 10,6% cùng kì năm trước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 446,6 triệu USD, tăng 26,2%. Tỉnh TT- Huế, giá trị sản xuất CN 7 tháng đầu năm 2007 tăng 22,1% so với cùng kì, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 100 triệu USD, tăng gần 3 lần cùng kì năm trước. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là khoáng sản, dệt may, bia, nhà lắp ghép, cấu kiện nhôm… Quảng Nam, giá trị sản xuất CN 8 tháng ước đạt 3.347,2 tỉ đồng, tăng 27,2%, đạt 64,4% kế hoạch.

Quảng Ngãi 8 tháng đạt 1.867.085 triệu đồng, tăng 17,9%, trong đó có những sản phẩm vượt cao như phân bón, đường, tinh bột mì… Bình Định, cách đây hơn 5 năm khi giá trị sản xuất công nghiệp lần đầu tiên vượt qua mốc 1.000 tỉ đồng đã cho rằng đó là một nỗ lực lớn, nhưng đến bây giờ con số đó đã bỏ xa với gần 4.000 tỉ đồng/năm, mức tăng trưởng trên 17%/năm, kim ngạch XK năm 2006 đạt trên 250 triệu USD. Quảng Bình, tuy có khó khăn hơn những tốc độ phát triển công nghiệp không hề thua kém, trên dưới 20%/năm, kim ngạch xuất khẩu năm 2007 dự kiến vượt qua con số 40 triệu USD…
Nhưng có lẽ ấn tượng nhất chính từ địa hình đồi núi của mình, với rặng Trường Sơn vắt ngang qua nên miền Trung đang nổi lên là khu vực điện năng lớn không những phục vụ tại chỗ mà cung cấp cho nhiều vùng miền khác. Đầu bảng là Quảng Nam, riêng các dự án thủy điện đã được phê duyệt là 46 dự án, với tổng công suất 1.536MW, trong đó dự án thuỷ điện A Vương đã chuẩn bị đưa vào khai thác. Quảng Trị, có dự án thủy điện Rào Quán cũng đang bước vào giai đoạn cuối cùng. TT- Huế, sau hai dự án thủy điện Bình Điền và Hương Điền, đầu tháng 7/2007 vừa qua công trình thuỷ điện thứ ba ở A Lưới cũng được khởi công. Ba dự án trên dự tính sản xuất trên 1.063 triệu Kwh.

Tiếp đến là một loạt công trình thuỷ điện khác sẽ được khởi công như dự án thủy lợi- thủy điện Tả Trạch, thủy điện A Roàng, Hồng Hạ, Thượng Nhật, Tà Lương… Không riêng gì TT- Huế, Quảng Nam, Quảng Trị, các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Bình, Bình Định cũng đang tiến hành khảo sát, quy hoạch để lập những dự án thủy điện vì không những lợi ích kinh tế từ việc cung cấp năng lượng quốc gia mà còn là bài toán giải quyết các vấn đề về kinh tế-xã hội của địa phương. Đó là, phân lũ, là thuỷ lợi, việc làm…

Đúng như TS Trương Đình Hiển nói: Tài nguyên không quan trọng bằng vị trí địa lí! Và miền Trung không thiếu tài nguyên; vị trí địa lí lại vô cùng thuận lợi khi gắn kết với Tuyến hành lang kinh tế đông tây do đó Miền Trung đúng là… địa chỉ vàng để các nhà đầu tư tìm đến.

Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Old Tiger cho bài viết trên:
chaika (06-08-2008), Iozik (09-08-2008), Thao vietnam (06-08-2008), thoixavang (07-08-2008), virus (06-08-2008)