Nhân tiện nhờ các bạn xem xem bản dịch này có gì cần sửa không nhé
Bài gốc (bài viết thứ 2) ở đây:
http://www.hrono.ru/biograf/vrubel.html
=============================

Họa sĩ Vrubel M.A. Chân dung tự họa. 1905
Mikhail Alekxandrovich Vrubel là một tài năng đa dạng hiếm có. Ông nổi tiếng như một nghệ sĩ vẽ văn bia kỷ niệm, họa sĩ sân khấu, nhà điêu khắc và thậm chí còn là kiến trúc sư. Nhưng dù có làm việc trong lĩnh vực nào thì họa sĩ cũng tạo ra những tác phẩm xuất sắc.
Ngay cả trong số các họa sĩ xuất sắccủa thời kỳ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX thì Vrubel cũng nổi bật bởi sự độc đáo không lặp lại của nghệ thuật của mình. Sự độc đáo của ý tưởng, sự mới mẻ của hình thức thể hiện thường cản trở những người cùng thời hiểu được nghệ thuật của ông, còn sự không công bằng nghiệt ngã của phê bình đã làm thương tổn nặng nề người họa sĩ tinh tế này. Họa sĩ bậc thầy I.E.Repin hồi tưởng “Cả cuộc đời anh ấy chịu rất nhiều đau khổ, nhưng tài năng rực rỡ của anh ấy đã cho ra những tác phẩm tuyệt vời”.
Mikhail Alekxandrovich Vrubel sinh ngày 17 tháng 3 năm 1856 ở thành phố Omsk trong gia đình một luật sư quân đội. Người cha rất quan tâm tới sự say mê hội họa của con trai.
Trong thời gian sống ở Peterburg không lâu Vrubel học tập ở trường vẽ và thường đến thăm Ermitage. Sau khi tốt nghiệp trường gymnasia Odessa, nơi đã học văn học, lịch sử, tiếng Đức, Pháp và la tinh rất nghiêm túc, Vrubel thi vào khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Peterburg. Năm 1879 Vrubel tốt nghiệp đại học.
Tới lúc đó thì Vrubel đã quyết định đi theo con đường nghệ thuật, và vào năm 1880 thi vào Trường Nghệ thuật Peterburg vào lớp của thầy giáo nổi tiếng P.P. Chischiakov. Trong trường này Vrubel làm việc rất nhiều và nghiêm túc.
Trong số những bức vẽ hồi còn học trong trường của Vrubel nổi bật nhất là bức vẽ màu nước “Lễ đính hôn của Maria và Joseph” (1881). Bố cục của bức tranh gợi nhớ đến bức tranh của Raphael cùng chủ đề, cùng với đó trong bức vẽ ảnh hưởng các phác họa chủ đề Kinh Thánh của A.A.Ivanov, nhưng cấu trúc bố cục, chuyển động của các nhân vật sôi nổi hơn.
Mùa thu năm 1883 Vrubel thuê một xưởng vẽ để làm việc độc lập. Ở đây Vrubel đã vẽ bức màu nước “Người mẫu trong khung cảnh Phục hưng”. Bức tranh này đã cho thấy khả năng của họa sĩ truyền đạt sự đa dạng của hình dạng vật chất, sự phong phú của các tông màu sắc.
Ngay từ khi còn học ở Trường Nghệ thuật Vrubel đã bắt đầu quan tâm đến những chủ đề nhân văn, triết học, và bị lôi cuốn bởi những hình tượng con người mạnh mẽ, nổi loạn và thường là bi kịch. Không phải ngẫu nhiên mà bức tranh đầu tiên của Vrubel gắn liền với bi kịch của Shakespeare: đó là “Hamlet và Ophelia” (1884). Vào tháng tư năm 1884 Vrubel rời Trường Nghệ thuật nhận lời đề nghị của nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng A.Prakhov tham gia vào phục chế Nhà thờ Kirillovskaya (được xây từ thế kỷ 12). Họa sĩ đã hoàn thành việc phục hồi 150 mảnh của những bức vẽ cổ trên tường và vẽ 4 bức vẽ mới trên chỗ của những bức không phục hồi được. Ngoài các bức vẽ trên tường thì Vrubel còn vẽ 4 bức tranh thánh (icona). Họa sĩ vẽ những bức tranh thánh này ở Venice, nơi Vrubel nghiên cứu nghệ thuật thời kỳ Đầu Phục hưng. Tác phẩm tốt nhất trong số đó là bức tranh thánh “Đức Mẹ” – hình tượng một người mẹ hiền dịu – nữ tính và cùng lúc đó lại u buồn, dường như linh cảm được số phận bi thảm của con trai mình.

“Đức Mẹ” 1884-85
Tuy nhiên đỉnh cao trong nghệ thuật của Vrubel thời kỳ Kiev là những phác họa Nhà thờ Vladimirsky (1887). Khi làm việc ở nhà thờ Kirillovskaya, khi nghiên cứu những bức vẽ trên tường nhà thờ Sophiskaya, họa sĩ đã cảm nhận được bản chất của nghệ thuật vẽ Nga cổ. Trong những bức phác họa Nhà thờ Vladimirsky đã thể hiện rất rõ mối quan hệ chặt chẽ của nghệ thuật Vrubel và những kế thừa hội họa cổ vốn gần gũi với tài năng và tâm hồn của họa sĩ. Hình tượng cao thượng của “Phục sinh”, hay hình ảnh “Thiên thần và lư và ngọn nến” rực rỡ hào quang, dường như được vây quanh bởi nền xanh không đáy của bầu trời, và cuối cùng là “Khóc trên quan tài” với cảm xúc bi kịch đầy sức mạnh. Đức Mẹ với đôi mắt mở to đầy nước mắt, dường như hóa đá trong nỗi đau khổ trên chiếc quan tài của con trai mình. Tiết tấu hoành tráng trong những nếp gấp quần áo, những đường nét nghiêm nghị, sự giản dị đơn sắc của gam màu, sự hàm súc tối đa của bố cục đã giúp đỡ họa sĩ diễn tả chiều sâu và sự vĩ đại của nỗi buồn. Trong “Khóc trên quan tài” – một trong những tác phẩm Vrubel đã phối hợp hữu cơ sự hài hòa và sự hoành tráng của nghệ thuật cổ với sự biểu cảm tình cảm của con người thế kỷ XX.

“Thiên thần và lư và ngọn nến”. 1887
Họa sĩ không thực hiện được những suy tưởng của mình trong các bức vẽ trên tường nhà thờ - sự tham gia của Vrubel trong việc trang trí nhà thờ bị giới hạn trong việc vẽ các đường viền rắc rối – nhưng ngay cả trong việc đó họa sĩ vẫn vẽ say sưa, đem vào đó sự giàu có của óc tưởng tượng. Theo lời của họa sĩ lừng danh Nhesterov thì Vrubel “một con người trong trắng vô tư không thuộc hành tinh này, anh ấy bay bổng trong những giấc mơ của mình, và nhữnng ước mơ ấy khi đã ghé thăm anh ấy rồi thì cũng không ở lại lâu, chúng nhường chỗ cho những ước mơ mới, những hình ảnh mới, những hình ảnh chưa bao giờ có, chưa được thậm chí chờ đợi, những câu đố chưa được giải đáp, những cách nhìn tuyệt vời của cuộc sống và óc tưởng tượng của một họa sĩ thần kỳ từ hành tinh khác.
Năm 1889 Vrubel đến Matxcơva bắt đầu giai đoạn mới rực rỡ nhất trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Họa sĩ nhận được một loạt đặt hàng vẽ panno trang trí. Một trong số đó – “Venice” (1893) – được vẽ theo ấn tượng chuyến đi Italia (1891-1892). Trước khán giả xuất hiện một thành phố của thời đại Phục hưng với vẻ đẹp lộng lẫy trong ngày lễ Karnaval rực rỡ.
Nội dung của bức tranh “Tây Ban Nha” (1894), có thể là được gợi cảm hứng từ vở opera “Carmen” của Bizet, vở opera được Vrubel rất yêu thích và cho rằng đó là một “kỷ nguyên trong âm nhạc”. Sự hồi hộp của các nhân vật, sự căng thẳng của màu sắc, dòng những tia sáng mặt trời nóng bỏng gọi cảm xúc mâu thuẫn, kịch tính. Đất nước như đang sống động với những cảm xúc nóng bỏng sôi sục, tình yêu và sự căm giận mạnh mẽ. Gần gũi theo một khía cạnh nào đó với bức tranh này là bức “Gadanka” (1895), một tác phẩm tâm lý sâu sắc. Giữa ánh sáng lấp lánh tím hồng của thảm và lụa vải Vrubel đã làm nổi bật khuôn mặt. Cái nhìn chăm chú của đôi mắt cháy bỏng cuốn hút mạnh mẽ, dường như trước mặt người phụ nữ này đang mở ra bí mật đáng sợ của tương lai.
Trong thời gian này Vrubel vẽ nhiều tranh chân dung, và đối với mỗi bức chân dung họa sĩ lại tìm ra những thủ thuật hội họa đặc biệt. Trong bức chân dung K.D.Artxưbusheva (1897) có thể cảm thấy sự thăng bằng bình thản, chân dung của S.I.Mamontov (1897) lại được xây dựng trên sự tương phản các nhịp điệu bố cục, chi tiết, màu sắc, làm gợi nên sự nóng bỏng của hình ảnh, trong đó sự vĩ đại gần kề sự bất lực.
Tình yêu âm nhạc có từ lâu dẫn Vrubel đến với đoàn hát opera tư nhân của S.I.Mamontov, nơi họa sĩ chơi thân với N.A.Rimsky-Korsakov, và tham dự vào việc bố trí sân khấu cho các vở opera “Vị hôn thê của sa hoàng” và Chuyện cổ tích về sa hoàng Saltan. Sau đó Vrubel tham gia thiết kế các dự án kiến trúc, trong đó chỉ có một dự án đựơc thực hiện – hàng rào cạnh nhà Mamontov ở Matxcơva. Ở Abramtxevo thì họa sĩ đứng đầu một xưởng gốm, tạo ra một sêri những tác phẩm điêu khắc gốm theo chủ đề cổ tích “Lel”, “Volkhova”, “Kupava”.

“Lel” 1899-1900. Gốm
Nhiều tìm tòi sáng tạo của Vrubel gắn liền với Abramtxevo. Nơi đây Vrubel bắt đầu quan tâm tới văn hóa dân gian, tới những truyền thống dân tộc. Trong một bức thư gửi em gái Vrubel viết: “Bây giờ anh đang ở Abramtxevo và anh lại nghe thấy nốt nhạc dân tộc mà anh muốn bắt lấy trên tranh vẽ và trong các đường viền. Đó là âm nhạc của một người nguyên vẹn, không bị chia cắt bởi những xao nhãng của Phương Tây trật tự, phân biệt và nhợt nhạt”
Họa sĩ tìm “âm nhạc của một người nguyên vẹn” trong folklore Nga, và trong những năm 90 Vrubel thường xuyên đề cập tới những hình ảnh của folklore. Vrubel không quan tâm tới những minh họa cho những tráng sĩ ca hay truyện cổ tích nhất định, họa sĩ mong muốn cảm nhận được khái niệm của cha ông về con người và thiên nhiên, nhìn thế giới bằng cặp mắt của họ.
Và bức tranh “Tráng sĩ” (1898) của Vrubel là như thế - sản phẩm của thiên nhiên xung quanh, người đã cho tráng sĩ ấy sức mạnh và sự vĩ đại.
Trong bức tranh “Pan” (1899), thì vị thần Hy Lạp biến thành thần cây gỗ Nga. Già cả, đầy những nếp nhăn, với đôi mắt xanh sâu thẳm, ngón tay như những cành khô, dường như Pan xuất hiện từ một gốc cây cũ kỹ. Những đồng cỏ ẩm ướt vô tận, dòng suối uốn khúc, những cây bạch dương mảnh dẻ đứng lặng trong sự yên lặng của hoàng hôn đang buông xuống mặt đất, được chiếu sáng bởi ánh sáng đỏ của vầng trăng khuyết – khung cảnh đặc trưng Nga – trở nên nhuốm sắc màu sắc thần bí kỳ lạ. Sự phối hợp hài hòa giữa thực tế và tưởng tượng còn được thể hiện trong bức tranh “Công chúa – Thiên nga” (1900). Bố cục bức tranh tạo nên ấn tượng dường như chúng ta nhìn vào thế giới cổ tích, nơi bỗng nhiên cô gái – thiên nga thần kỳ hiện ra, bơi đến bờ biển bí ẩn xa xăm và sắp biến mất. Những tia nắng mặt trời cuối cùng lấp lánh trên bộ lông chim trắng như tuyết chuyển thành các màu sắc cầu vồng rực rỡ. Cô gái quay lại, khuôn mặt tinh tế dịu dàng tràn đầy nỗi buồn, đôi mắt sáng một nỗi buồn bí hiểm – trong đó có nỗi buồn day dứt… của sự cô đơn. “Công chúa – Thiên nga” là một trong những hình ảnh phụ nữ quyến rũ nhất, tâm trạng nhất được họa sĩ tạo ra.
Tình yêu thiên nhiên mãnh liệt giúp cho họa sĩ truyền đạt được sắc đẹp của thiên nhiên. Những chùm hoa “Tử đinh hương” (1900) lộng lẫy của Vrubel dường như cháy rực ngọn lửa tím, sống, thở và tỏa ngát hương trong ánh sáng rực rỡ đêm sao. Một trong những người cùng thời của Vrubel đã viết: “Bà chúa thiên nhiên đã làm anh ấy mù mắt … vì anh ấy đã nhìn quá chăm chú vào những bí mật của bà”.

“Tử đinh hương” (1900)
Ngang với những chủ đề anh hùng ca, trong suốt những năm 90 Vrubel còn làm việc với hình ảnh Ác quỷ (Демон). Trong một bức thư gửi cha họa sĩ đã nói lên quan niệm của mình về Ác quỷ: “Ác quỷ - đó là một thần linh không chỉ đầy ác ý, mà còn đau khổ và buồn rầu, mặc dù vậy đó là một thần linh oai vệ và uy nghi”. Lần đầu tiên họa sĩ thử giải quyết chủ đề này vào năm 1885, song chính họa sĩ đã hủy bỏ tác phẩm.
Trong bức tranh “Ác quỷ ngồi” (1890) người khổng lồ trẻ trung được mô tả trong những tia nắng hoàng hôn trên đỉnh núi. Thân hình mạnh mẽ tuyệt đẹp dường như quá chật đối với khung, đôi tay ???, trong đôi mắt là nỗi buồn siêu phàm. “Ác quỷ” của Vrubel – đó là sự kết hợp của những mâu thuẫn: vẻ đẹp, sự vĩ đại, sức mạnh và cùng với đó là sự đè nén, sự bất lực, nỗi buồn: chung quanh Ác quỷ là một thế giới cổ tích tuyệt vời, nhưng đó là thế giới lạnh lẽo, hóa đá. Trong màu sắc của bức tranh là những sự tương phản. Màu tím lạnh lẽo “đấu tranh” với màu vàng cam ấm áp. Vách đá, hoa, hình dạng được vẽ theo một cách đặc biệt của Vrubel: họa sĩ dường như chẻ hình dạng ra những khía cạnh khác nhau, và tạo nên ấn tượng rằng thế giới được dệt từ những phiến đá quý. Và cảm xúc nguyên gốc sinh ra.
Suy nghĩ bằng những hình ảnh tưởng tượng, Vrubel gắn bó chặt chẽ với cuộc sống xung quanh, hình ảnh Ác quỷ của họa sĩ hết sức hiện đại, trong đó là hình bóng không chỉ những trăn trở cá nhân của họa sĩ, mà còn của cả chính thời đại với những tương phản và mâu thuẫn của nó. Như thi sĩ A.Blok đã viết: “Ác quỷ của Vrubel là biểu tượng của thời đại chúng ta, không phải đêm, không phải ngày, không phải bóng tối, mà cũng không phải ánh sáng”.
Năm 1891 khi chuẩn bị xuất bản kỷ niệm các tác phẩm của Lermontov do Kolchalovsky chủ biên thì Vrubel đã thực hiện 30 bức vẽ minh họa, trong đó tới một nửa là cho Ác quỷ. Những minh họa này, như những tác phẩm độc lập, rất có giá trị trong lịch sử sách Nga, và chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc của Vrubel đối với thi ca của Lermontov. Đặc sắc nhất là bức vẽ màu nước “Đầu Ác quỷ”. Trên nền những đỉnh núi đá phủ tuyết trắng là cái đầu với mái tóc xoăn đen. Khuôn mặt nhợt nhạt, đôi môi rám nâu dường như bị đốt cháy bởi ngọn lửa bên trong, cặp mắt rực lửa với cái nhìn sôi sục chứa đầy nỗi đau không chịu đựng nổi. Trong cái nhìn ấy là khát vọng “hiểu biết và tự do”, linh hồn nổi loạn của sự hoài nghi.

“ Đầu Ác quỷ ” (1890-91)
Vài năm sau Vrubel vẽ bức “Ác quỷ bay” (1899). Hình ảnh tràn đầy linh cảm về cái chết và sự diệt vong. Màu sắc chung của bức tranh là ảm đạm.
Và “Ác quỷ bị đánh bại” – bức tranh cuối cùng của Vrubel viết vào những năm 1901-1902. Họa sĩ đã làm việc căng thẳng và cực nhọc để có bức tranh này. A.Benua hồi tưởng lại rằng bức tranh đã được đem ra trưng bày ở triển lãm “Thế giới nghệ thuật” rồi, mà Vrubel vẫn còn tiếp tục vẽ lại khuôn mặt của Ác quỷ, thay đổi nền màu của bức tranh.
Thân hình bị đánh biến dạng của Ác quỷ với đôi cánh đã gẫy nằm bất lực trong hẻm núi, đôi mắt cháy lên giận dữ. Thế giới chìm vào bóng tối, tia nắng cuối cùng bừng lên trên vương miện của Ác quỷ, trên đỉnh núi. Linh hồn nổi loạn đã bị lật đổ, nhưng không bị bóp nghẹt.
Những người cùng thời nhìn thấy trong hình tượng đó căn nguyên nổi loạn của con người tuyệt vời không chịu khuất phục. Đó là những lời của A.Blok:
“Ôi sự bất lực trong khoảnh khắc! Thời gian như màn khói nhẹ nhàng! Chúng ta sẽ lại giang rộng cánh! Và lại bay cùng trời đất mênh mang!...” và những lời của Shaliapin sẽ nói sau đó không lâu:
“Và Vrubel đã vẽ ra những Ác quỷ của mình! Mạnh mẽ, đáng sợ, khủng khiếp và không thể sánh bì … Và Ác quỷ của tôi đó là từ Vrubel mà ra”.
Sau khi kết thúc bức tranh Ác quỷ bị đánh bại thì Mikhail Alekxandrovich Vrubel bị ốm nặng và phải nằm viện. Căn bệnh khi đỡ khi nặng kéo dài tới năm 1904, sau đó thì Vrubel khỏe được một thời gian ngắn.