(tiếp theo)
Đến đầu năm 1980 máy tính M-10 là máy có hiệu suất cao nhất (theo một vài đánh giá – 20-30 triệu phép tính/giây), dung lượng bộ nhớ trong và khả năng thông qua nhiều kênh. Lần đầu tiên trên thế giới trong máy đã áp dụng hàng loạt cách giải quyết tiên tiến, trong đó có khả năng xem xét trước sự phối hợp đồng bộ đến 7 máy tính có thể trao đổi thông tin trực tiếp giưac các chương trình của từng máy tính riêng rẽ và sự chia sẻ tài nguyên năng động; hiện thực hoá việc tái cấu trúc một cách tự động môi trường của các quá trình; đã đưa vào bộ nhớ trong bậc hai có dung lượng hơn 4 triệu bytes có thể tự do truy cập; có sự trao đổi bên ngoài với cả hai bậc của bộ nhớ trong.
Điểm mới lạ của các giải pháp kỹ thuật được bảo vệ bằng 18 bằng sáng chế và 5 bằng về kiểu dáng công nghiệp.
Dung lượng bộ nhớ trong lớn của máy M-10 yêu cầu số lượng linh kiện khá lớn. Nếu như tất cả linh kiện của máy đặt trong 31 tủ thì bộ nhớ linh hoạt bậc một trên lõi pherit dạng M-100П2 có đường kính ngoài 1mm đã chiếm 8 tủ như vậy, bộ nhớ cố định dạng tụ điện có phiếu đục lỗ kim loại có thể thay thế được làm vật mang thông tin cũng chiếm 8 tủ nữa, bộ nhớ lớn (bộ nhớ bậc hai) dùng lõi М-100П2 chiếm 4 tủ. Nhằm thu nhỏ kích thước máy M-10 người ta quyết định nghiên cứu khả năng chế tạo bộ nhớ có cùng dung lượng nhưng có độ tích hợp cao để thu nhỏ kích thước. Các nghiên cứu đã cho kết quả khả quan: năm 1974 bắt đầu nghiên cứu bộ nhớ mới. Người ta dùng các mạch vi điện tử làm vật mang thông tin trong các bộ nhớ linh hoạt bậc nhất và bộ nhớ lớn (bậc hai), còn trong bộ nhớ cố định thì dùng các lõi toroid có từ tính. Năm 1975 tài liệu thiết kế đã được giao cho nhà máy sản xuất để chế tạo những mẫu đầu tiên. Tất cả bộ nhớ linh hoạt được đặt trong một tủ, bộ nhớ lớn trong hai tủ và bộ nhớ cố định cũng trong hai tủ. Bộ nhớ mới hoàn toàn đáp ứng đầy đủ mọi chức năng của máy M-10.
Từ năm 1980 máy được sản xuất với bộ nhớ mới và có ký hiệu M-10M. Máy M-10 và M-10M có cùng chương trình và có thể thay thế lẫn nhau.
Chính Karsev đã viết về những năm tháng đáng nhớ đó trong báo cáo nhân dịp 15 năm thành lập Viện như sau: “Chúng tôi trải qua năm 1967 với một đề nghị khá táo bạo là dự án tổ hợp tính toán M-9. Đây cũng là năm kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười nên máy có tên gọi là Tháng Mười. Ở Bộ máy công cụ người ta cio đây là việc làm quá quắt, họ bảo : các anh hãy đi gặp xin Kalmưkov. Vậy là hôm nay chúng ta đã kỷ niệm 15 năm chính cái ngày ấy.
Dự án M-9 không được thực hiện nhưng năm 1969 đã bắt đầu nghiên cứu máy tính M-10 để đến năm 1973 đưa vào khai thác. Trong nhiều năm liền đây là máy tính mạnh nhất ở Liên Xô và hiện nay vẫn được tiếp tục sản xuất và sử dụng. Nhờ sử dụng máy mà chúng ta đã thu được những kết quả khoa học quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý. Không thể nói rằng việc nghiên cứu máy tính M-10 đã được đón nhận cởi mở. Thực ra người ta đã bảo chúng tôi là những kẻ tâm thần, rằng không thể gom đống kim loại ấy vào một chỗ và chúng sẽ chẳng bao giờ hoạt động được. Nói như vậy, về tâm lý bây giờ chúng tôi đã quen rằng máy tính lớn được cấu tạo từ nhiều thiết bị khác nhau. Thời đó không một ai chấp nhận điều đó. Và chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện rất khó khăn, chúng tôi đã phải làm việc trong tầng hầm của nhiều ngôi nhà ở khắp Matxcova.
(còn tiếp)
|