(tiếp theo)
Đến tháng 6 năm 1973 tất cả các bộ phận của mẫu đầu tiên đã được làm xong và thử nghiệm kỹ thuật và được đưa đến để hiệu chỉnh tổng thể toàn máy. Tháng 9 năm đó mẫu máy M-10 công nghiệp đầu tiên đã được kiểm tra kỹ thuật và đưa vào khai thác thử nghiệm.
Tháng 12 năm 1973 thì chính mẫu công nghiệp thứ hai cũng được thử xong. Thực tế từ lúc đó đã bắt đầu sản xuất hàng loạt máy tính M-10 và được sản xuất trong suốt hơn 15 năm sau đó. Vài chục bộ máy đã được sản xuất, đa số vẫn được khai thác cho đến ngày nay. Hàng loạt tổ hợp tính toán mạnh đã được thiết lập dựa trên máy tính M-10. Năm 1976, máy tính M-10 đã thành công trong cuộc thử nghiệm quốc gia.
Việc chế tạo máy tính điện tử M-10 đã được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1977 trao cho cả nhà nghiên cứu và nhà sản xuất. Trong số những người được trao danh hiệu Giải thưởng nhà nước có phó thiết kế trưởng L.V. Yvanov, A.A. Krupsky, L.Ya. Miller, Yu.V. Rogachev, R.P. Shidlovsky, A.yu. Karasik; phía nhà máy có kỹ sư trưởng Shishulov và phó thiết kế sản xuất V.A. Musnhikov, phía đơn vị lắp ráp có kỹ sư trưởng Y.N. Yarưgin. Tổng công trình sư máy tính M-10 M.A. Karsev được tặng thưởng huân chương Lê nin. Còn có 118 cộng tác viên của Viện nghiên cứu máy tính và nhà máy sản xuất được tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại của nhà nước Liên Xô.
Máy tính M-10 là hệ thống nhiều quá trình dạng đồng bộ và thuộc về máy tính thế hệ thứ 3: máy sử dụng mạch vi điện tử seri 217 làm linh kiện logic chủ yếu. Máy dùng để duy trì hoạt động của các hệ thống điều khiển tự động phức tạp trong thời gian thực và để giải nhiều bài toán khoa học kỹ thuật khác nhau.
Nếu thua kém siêu máy tính “Sgau-1” của Mỹ thời đó về hiệu suất thì máy tính M-10 lai trội hơn về nhiều khả năng trong cấu trúc. Những khả năng này được xác định bằng các chu trình máy (trung bình) để thực hiện một phép tính. Con số này càng nhỏ thì máy càng tốt về cấu trúc. Máy tính M-10 có số này vào khoảng từ 0,9 đến 5,3 (cho toàn phổ phép tính) còn máy “Sgau-1” thì từ 0,7 đến 27,6. Ở đây giá trị nhỏ nhất là xấp xỉ nhau nhưng giá trị lớn nhất của máy M-10 nhỏ hơn nhiều so với máy “Sgau-1”.
Để độc giả hiểu được tầm quan trọng của việc chế tạo máy M-10 cần nói đôi chút về ý nghĩa cơ bản của nó. Ý nghĩa náy được giữ bí mật khá lâu vì máy được chế tạo để dùng cho Hệ thống cảnh báo cuộc tấn công tên lửa và theo rõi không gian vũ trụ. Thông tin về việc này lần đầu tiên được xuất hiện trên báo “Sự thật” ngày 1/4/1990. Nhiệm vụ của hệ thống là cung cấp cho lãnh đạo đất nước những thông tin tin cậy về khả năng tấn công tên lửa và tình hình vũ trụ, tức là thuần tuý quốc phòng. Hiện nay trên quỹ đạo gần trái đất có gần 17 nghìn vật thể có nguồn gốc khác nhau bao gồm cả vệ tinh đang hoạt động hay đã hết hạn sử dụng, các mảnh vỡ của tên lửa đẩy và nhiều thứ khác. Thê đội đầu tiên của Hệ thống cảnh báo tấn công tên lửa ở trên vũ trụ: các vệ tinh xác định được nơi phóng theo quầng sáng của tên lửa. Nòng cốt của hệ thống là thê đội hai ở mặt đất gồm các tram rada mạnh nằm ở biên giới (trước khi Liên Xô tan rã có 9 trạm ở Riga, Murmansk, Pechera, Yrkutsk, Balkhas, Min-gechaur, Sevastopol, Mukachevưi) và mạng lưới các tổ hợp tính toán M-10.
Ngay cả việc chuẩn bị chiến tranh hiện nay cũng liên quan đến việc phóng nhiều loại tên lửa. Nhưng nếu tên lửa hạt nhân rơi vào tay những kẻ phiêu lưu chính trị hay các “lãnh tụ” kiêu ngạo có thể phóng tên lửa mà không đợi “phê chuẩn”? Cần phải đánh giá nhanh chóng và chính xác những hành động như vây, nếu khác đi hậu quả sẽ là huỷ diệt cả hành tinh. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi hoạt động của hệ thống cảnh báo và kiểm soát không gian vũ trụ có ý nghĩa toàn cầu.
Cần nhấn mạnh yêu cầu cực kỳ cao đối với kỹ thuật tính toán trong hệ thống như vậy: chỉ có vài giây để tính quỹ đạo của tên lửa còn lượng dữ liệu từ các trạm rada đổ vào máy tính là rất lớn.
(còn tiếp)
|