(tiếp theo)
Nhiều phép tính trong đó có thể giải thích như các phép tính vector đã biết : cộng và phép trừ hàm số như cộng và trừ vector, tính tích phân xác định từ đạo hàm của hai hàm số - như tính tích vô hướng của hai vector, dịch chuyển hàm theo trục hoành – như quay vector đối với trục toạ độ và v.v…
Điểm khác biệt chủ yếu của chiếc máy như vậy là ở cách tổ chức tương tác của các thiết bị số học. Chúng làm việc nhờ một máy phát tạo nhịp chung, hơn nữa mỗi máy thực hiện phép tính của mình trong suốt một hay hai nhịp, ở cuối mỗi một phép toán hay đầu phép toán tiếp theo (không cần tốn thêm thời gian) có duy trì việc trao đổi thông tin giữa đầu ra của một thiết bị số học bất kỳ với đầu vào của một bộ ghi nào đó (ghi phép tính trước) và giữa đầu vào của thiết bị số học bất kỳ với đầu ra của bộ ghi nào đó (đọc dữ liệu gốc cho phép tính tiếp theo) và cả giữa các thiết bị số học với nhau.
Máy số vector trong thành phần BK M-9 thực hiện các phép tính trên các phần của hàm số hay các vector nhiều hướng. Máy tính kết hợp có hiệu suất cao đảm nhận phần lớn việc về số dư và hiệu chỉnh thông tin. Máy tính số làm việc theo chương trình độc lập và theo chương trình đồng bộ với các máy khác trong BK M-9. Việc đồng bộ hoá các máy tính khác chủng loại cho phép tổ hợp giữ được hiệu suất cao khi làm việc với nhiều dạng thông tin và làm cho nó trở thành công cụ tính toán vạn năng để giải nhiều dạng toán yêu cầu hiệu suất rất cao.
Tiếc là tổ hợp tính toán M-9 không được sản xuất công nghiệp nhưng việc nghiên cứu chế tạo và khai thác có hiệu quả mẫu mô hình máy là bằng chứng rõ ràng về sức sáng tạo của tập thể do Karsev đứng đầu. Năm 1967 trở thành một mốc đáng nhớ đối với những người nghiên cứu máy BK M-9: thành lập Viện nghiên cứu – khoa học tính toán. Đội quân của Karsev trở thành nòng cốt và chính ông được bổ nhiệm làm giám đốc. Đó là sự công nhận chính thức trường phái khoa học của Karsev.
Năm 1968 chính phủ ra nghị quyết về việc chế tạo máy tính điện tử M-10 dựa trên máy tính vector của tổ hợp BK M-9. Theo lời tiến sỹ khoa học kỹ thuật L.V. Yvanov, “có một cuộc thảo luận có uy tín đã diễn ra trước khi có nghị quyết này, tại đây đã xem xét tương lai của hai công trình nghiên cứu đã tiến hành: “Elbrus” (viện sỹ S.A. Lebedev) và M-10 (m.A. Karsev). Lebedev phát biểu kiên quyết phản đối bộ T nhiều quá trình trong “Elbrus” và chọn phương án một quá trình tốc độ cao nhất. Viện sỹ Gluskov ủng hộ cả hai hướng. Và cả hai hướng đều được tán thành. Cũng chính trong năm ấy bắt đầu nghiên cứu thiết kế cấu trúc và chuyển cho nhà máy chế tao. Từ năm 1970 ở nhà máy đã bắt đầu công việc chuẩn bị sản xuất và chế tạo mẫu thử nghiệm. Giữa năm 1970 toàn bộ tài liệu thiết kế đã được chuyển cho nhà máy , một năm sau, tháng 8 năm 1971 nhà máy đã dưa mẫu máy M-10 vào hiệu chỉnh. Cùng lúc đó người ta tiến hành sửa đổi thiết kế và chế tạo mẫu máy để sản xuất công nghiệp. Đó là một năm vất vả đối với Karsev. Công việc căng thẳng đã ảnh hưởng đến sức khoẻ: bệnh nhồi máu mạch vành đã bắt ông nằm vài tháng, cũng may là ông đã vượt qua.
(còn tiếp)
|