Càng không hiểu... (2)
Còn đây là bài của KS Trần Văn Khởi, hiện đang sinh sống tại Houston,Texas - Kỹ sư Trần Văn Khởi trước đây là Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Dầu Hỏa của ngụy quyền Sài Gòn. Sang định cư tại Hoa Kỳ, ông đã làm việc trong kỹ nghệ dầu hỏa Mỹ từ 30 năm qua. Sau đây là bài nhận định của ông về việc chính quyền trong nước thiết lập nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, Quảng Ngãi được đăng tải trong Việt Nam Review.
Trích:
Trong khoảng mười năm gần đây, ai theo dõi tin tức kinh tế Việt Nam thỉnh thoảng cũng có nghe tới dự án nhà máy lọc dầu đầu tiên ở Dung Quất. Thoạt đầu, vào giữa thập niên 90, nhiều người cũng ngạc nhiên như tôi, không biết Dung Quất đích thực là ở đâu ngoài Trung, và sao lại dự định xây nhà máy lọc dầu ở đây.
Lâu lâu lại có tin về dự án nhà máy lọc dầu ở Việt Nam, mà toàn là tin không hay: khi thì công ty Total của Pháp bỏ không tham gia tổ hợp, khi thì không kiếm ra nguồn tài trợ, khi thì công trình đê chắn cát cảng Dung Quất thiết kế sai, khi thì cả Tổng Giám Ðốc lẫn Phó Tổng Giám Ðốc PetroVietNam bị cách chức vì tội tham nhũng trong vụ đấu thầu công tác xây cất nhà máy, và khi thì công ty Zarubezhneft của Nga rút khỏi liên doanh để rồi chính phủ Việt Nam một lần nữa lại quyết định đầu tư xây cất nhà máy một mình.
Gần đây, thấy công tác càng ngày càng trễ nãi, từ 3 năm tới 5 năm rồi 7 năm, phí tổn đầu tư gia tăng từ 1.5 tỉ lên tới 2.5 tỉ Mỹ kim, trong khi chi phí xăng nhớt nhập cảng mỗi ngày một lên cao, Chính Phủ quyết định thành lập hồi cuối năm 2003 một Ban Chỉ Ðạo Nhà Nước do Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm Trưởng Ban để tìm mọi cách đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án lọc dầu.
Nhưng tiến triển cũng không khả quan hơn. Rồi Quốc Hội cũng bắt đầu cảm thấy khó chịu trước công luận, và từ cuối năm ngoái đã liên tiếp chất vấn Chính Phủ về dự án lọc dầu Dung Quất. Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội đã cho thành lập một đoàn giám sát để điều tra nội vụ.
Kết quả là một chuỗi những hành động ngoạn mục chưa từng thấy trong các chính phủ Việt Nam từ trước tới nay: Khi điều trần, Chính Phủ đã nhận lỗi trước Quốc Hội, và Quốc Hội cũng nhận phần trách nhiệm của mình và đã xin lỗi cử tri, nhân dân cả nước. Thêm vào đó, Nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt cũng gửi thư cho Quốc Hội, trình bày nội vụ trước công luận, và xác nhận rằng nếu Quốc Hội kết luận việc lựa chọn nhà máy Dung Quất là sai thì người nhận lãnh hoàn toàn trách nhiệm “phải chính là tôi, Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ Tướng Chính Phủ” khi đó.
Trong các cuộc thảo luận này, nhiều đại biểu đã than phiền vai trò quá thụ động của Quốc Hội trong quá khứ. Mới đây, Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đã xác định một thái độ mới, tích cực hơn của Quốc Hội, và khẳng định từ nay “sẽ không để lập lại tình trạng tương tự Dung Quất.”
Xem như vậy, chuyện nhà máy lọc dầu Dung Quất là một chuyện rất thích thú, đáng được theo dõi, tìm hiểu để biết, và nếu được thì để suy ngẫm và may ra đóng góp một vài điều trên đường phát triển kinh tế Việt Nam.
Từ hai giấc mơ tới một ác mộng
Chuyện nhà máy lọc dầu Dung Quất có thể nói là chuyện của hai giấc mơ không may trớ trêu giao thoa nghịch lý để trở thành một dự án đầy ác mộng.
Giấc mơ nhà máy lọc dầu
Quốc gia nào trên đường phát triển kinh tế cũng ước mong có nhà máy lọc dầu. Nhà máy lọc dầu là hạt nhân, là nền tảng của ngành hóa dầu (petrochemical), một hoạt động căn bản trong tiến trình phát triển công kỹ nghệ, vì đó là một kỹ nghệ sinh-ra-những-kỹ-nghệ-khác.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, hầu như không có quốc gia nào tiến bộ nhanh chóng mà không có một kỹ nghệ hóa dầu lớn mạnh. Ở Á Châu, từ những thập niên 1950-1960, Nhật Bản đã dành những nỗ lực đặc biệt để xây dựng một kỹ nghệ hóa dầu quy mô, mặc dù trong nước không có một giọt dầu thô. Trong những năm kế tiếp, Ðại Hàn, Ðài Loan và Tân Gia Ba cũng không có dầu thô và cũng theo gương Nhật Bản, không những chỉ sản xuất cho nội địa mà thật sự nhắm mạnh về xuất cảng. Rồi sau này Mã Lai Á, Thái Lan, và đặc biệt là Trung Quốc cũng đặt ưu tiên cao nhất cho ngành hóa dầu. Bên trời Tây cũng không khác gì, với những kinh nghiệm phát triển ở Anh, Pháp, Ðức và Ý. Ở Hoa Kỳ, kỹ nghệ hóa dầu cũng thuộc loại quan trọng hàng đầu; phần lớn các nhà máy nằm trải dài theo bờ Vịnh Mễ Tây Cơ, liên tiếp từ Freeport qua Houston, Baytown, Beaumont, Lake Charles, Baton Rouge tới New Orleans.
Ở Việt Nam, ngay từ thời Cộng Hòa, nhà máy lọc dầu cũng là một dự án ưu tiên được nhắc nhở nhiều lần, cùng với một khách sạn quốc tế 5 sao. Nhưng hồi đó, lúc đầu thì các công ty bán dầu Shell, Stanvac (Exxon+Mobil), và Caltex (Chevron+Texaco) có quá thừa khả năng lọc dầu ở Tân Gia Ba và Ras Tanura ở Saudi Arabia, rồi về sau vì rủi ro chiến tranh quá lớn, nên cứ giậm chân không chịu đầu tư. Dự án lọc dầu vẫn chỉ có trên giấy tờ. Ðến cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, khi Việt Nam xúc tiến khảo sát địa vật lý ở thềm lục địa miền Nam và thấy triển vọng tìm thấy dầu rất sáng sủa thì chương trình nhà máy lọc dầu và kỹ nghệ hóa dầu lại tái xuất trong giấc mơ phát triển. Trong cuốn “Dầu Hỏa Việt Nam 1970-1975: Những Ngày Còn Nhớ”, tôi có ghi lại vài ước mơ một ngày nào Việt Nam sẽ có được sinh hoạt phần nào như ở Houston khi tôi đi thăm khu kỹ nghệ hóa dầu dọc theo Ship Channel vào mùa Thu năm 1973.
Hiện nay, mặc dù có chậm trễ sau khi đã sản xuất cả tỉ thùng dầu thô hai chục năm qua nhưng chương trình nhà máy lọc dầu và kỹ nghệ hóa dầu vẫn tiếp tục là một dự án ưu tiên rất cao cho PetroVietNam, trong các kế hoạch đầu tư của quốc gia.
Giấc mơ phát triển miền Trung
Việt Nam vốn nghèo, mà miền Trung thì lại nghèo hơn – có lẽ lợi tức bình quân ở miền Trung từ xưa tới nay không hề bằng được phân nửa lợi tức bình quân cả nước. Thành thử phát triển miền Trung cũng là một ước mơ trong nhiều kế hoạch, chương trình của quốc gia qua bao thời kỳ.
Ngay từ thời Cộng Hòa, một số chương trình đã được thực hiện hồi đầu, như nhà máy vôi Long Thọ, nhà máy đường Quảng Ngãi, và Khu Kỹ Nghệ An Hòa Nông Sơn. Nhưng vì tầm vóc hạn hẹp và vì tình trạng thiếu an ninh nên những hoạt động này cũng không đóng góp được bao nhiêu. Rồi cũng vì hoàn cảnh chiến tranh, những chính phủ kế tiếp không làm được gì quy mô và hữu hiệu để phát triển kinh tế, và cũng không giúp được gì nhiều cho miền Trung.
Là người Huế, khi xúc tiến chương trình tìm dầu ngoài khơi Việt Nam, tôi cũng có để ý về triển vọng dầu khí ngoài Trung. Nhưng dựa trên các điều nghiên sơ khởi của Liên Hiệp Quốc và nói chuyện với các công ty dầu lúc đó, tôi không có gì lạc quan về triển vọng dầu khí ngoài khơi miền Trung; may ra thì có thể có khí thiên nhiên, còn dầu thô thì coi như là chuyện hi hữu.
Sau khi Trung Cộng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa hồi đầu năm 1974, một công ty dầu nói với tôi là hành động này có thể liên hệ tới một mỏ khí thiên nhiên khổng lồ mà công ty Arco (nay đã sáp nhập vào công ty BP) mới tìm ra ở gần đảo Hải Nam. Mỏ khí đó về sau đã phát triển rất lớn, và cung cấp khí cho tận Hồng Kông. Trong những năm đầu thập niên 1980, sau khi các công ty Tây phương trở lại tìm dầu ở Việt Nam, tôi cũng có để ý tìm xem kết quả khoan giếng ở ngoài khơi miền Trung. Và tuy không ngạc nhiên nhưng tôi đã thất vọng khi hay tin các loạt giếng mang tên Anh Vũ, Hoàng Oanh, Kim Tước (của Shell), Sư Tử Biển, Bạch Tuộc, Cá Voi Xanh, Cá Heo (của BP), và Cá Sấu, Cá Mập (của BHP), khoan từ ngoài khơi Quảng Trị tới ngoài khơi Qui Nhơn, đều khô, không có dầu mà cũng không có khí thiên nhiên gì cả.
Dự án đầy ác mộng
Theo dõi tin tức trong kỹ nghệ dầu hỏa, tôi được biết dự án nhà máy lọc dầu đầu tiên đã được PetroVietNam làm việc và đúc kết với công ty Total của Pháp từ năm 1992; địa điểm chọn lựa là khu Vũng Tàu. Nhưng trước khi chung quyết chính thức và khởi sự xúc tiến dự án thì không hiểu sao Chính Phủ lại quyết định thay đổi địa điểm, dời ra Dung Quất thuộc tỉnh Quảng Ngãi ở ngoài Trung.
Sau một thời gian thẩm lượng, công ty Total kết luận rằng với địa điểm cách xa nguồn dầu thô ở ngoài khơi miền Nam cả ngàn cây số, đồng thời cách xa thị trường tiêu thụ cũng cả ngàn cây số (thị trường tiêu thụ phỏng định khoảng 60% trong Nam, 30% ngoài Bắc, và 10% ở miền Trung), thì phí tổn chuyên chở cả đi (dầu thô) lẫn về (sản phẩm) trở thành quá lớn, giá thành sản xuất lên cao ít nhất là 5%, nghĩa là ít nhất cũng 10-15 Mỹ kim mỗi tấn sản phẩm, dựa trên giá dầu ước lượng khi đó. Nền kinh tế Việt Nam sẽ thất thoát tối thiểu từ 70 tới 100 triệu Mỹ kim mỗi năm trong tương lai. Năm 1995, công ty Total rút lui khỏi dự án.
Các công ty khác cũng được tiếp xúc để tìm thỏa hiệp hợp tác xây cất nhà máy lọc dầu ở Dung Quất. Tin tức cho thấy một tổ hợp của Conoco (bây giờ là Conoco-Phillips) thẩm định dự án ở Dung Quất là bất-khả-thi, và đã rút lui. Một công ty khác là Petronas, công ty quốc doanh của Mã Lai Á, cũng thấy dự án sẽ không mang lại lợi nhuận, và yêu cầu được thêm quyền bán xăng nhớt ở Việt Nam (do PetroVietNam độc quyền) để kiếm thêm lời. Yêu cầu này không được chấp thuận và Petronas cũng bỏ dự án.
Mãi tới năm 1997, dự án Nhà Máy Lọc Dầu Dung Quất mới được nhà cầm quyền Việt Nam chính thức chấp thuận, do Quốc Hội Khóa X thông qua về chủ trương xây dựng tại Nghị Quyết số 07/1997 ngày 5 tháng 7 năm 1997. Tổng số vốn pháp định dự kiến ban đầu là 1.3 tỉ Mỹ kim (sau điều chỉnh thành 1.5 tỉ Mỹ kim), với khả năng lọc dầu ước lượng khoảng 130 ngàn thùng một ngày (6.5 triệu tấn một năm) dầu thô. Nhà máy Dung Quất dự trù sẽ hoàn tất vào năm 2001, và sẽ bắt đầu sản xuất đầu năm 2002. Nhưng sau khi có quyết định chính thức, dự án Dung Quất đã gặp từ rắc rối này đến trở ngại khác như trong một cơn ác mộng:
“không tìm ra nguồn tài trợ;
“vốn đầu tư tăng lên tới 2.5 tỉ Mỹ kim, một phần vì phí tổn xây cất gia tăng và một phần vì thay đổi thiết kế kỹ thuật (thí dụ như để sản xuất thêm xăng “super 92”);
“vùng biển ở Dung Quất xét ra thấy bị cát bồi từ sông Thu Bồn, phải làm kè chắn cát, một công tác trong nước chưa có tiêu chuẩn thực tế hay kinh nghiệm thực hành;
“Tổng Giám Ðốc Nguyễn Xuân Nhậm và Phó Tổng Giám Ðốc Ðinh Văn Ngà bị cách chức ở PetroVietNam (và trong đảng Cộng Sản) vì tham nhũng trong việc đấu thầu dự án xây cất nhà máy;
“liên doanh với công ty quốc doanh Zarubezhneft của Nga quá lủng củng, rồi Zarubezhneft cũng rút ra khỏi liên doanh, đặt lại vấn đề tài trợ dự án.
Nhìn lại tiến trình thiết lập nhà máy lọc dầu, có người đã nhận định đúng đắn rằng trong mấy năm qua, “sự lãng phí lớn nhất, gây nhiều thiệt hại về vật chất, là lãng phí thời gian”.
Các kết quả điều tra
Nhiều cuộc thẩm lượng và điều tra đã được thực hiện để nêu rõ trách nhiệm ở đâu và về ai trong chuyện nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Phía chính phủ
Phía Chính Phủ thì không thấy có phúc trình chính thức nào, nhưng qua các lời điều trần ở Quốc Hội thì các nhận định có thể tóm tắt như sau:
“Theo Bộ Trưởng Kế Hoạch và Ðầu Tư Võ Hồng Phúc thì ‘khi phê duyệt dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, theo tôi là thiếu cơ sở khoa học và thiếu kiến thức thực tiễn, những ‘chủ đầu tư’ đã tự tạo ra tính khả thi cao để trình Chính Phủ và Quốc Hội”;
“Bộ Trưởng Công Nghiệp Hoàng Trung Hải đưa ra nhiều chi tiết hơn:
- Khi dự án được Quốc Hội chính thức chấp thuận thì cũng là lúc có khủng hoảng tài chính khu vực trong năm 1997 nên không thu xếp được nguồn vốn dự kiến;
- Việc thực thi chậm trễ là do “quá trình triển khai gặp một số khó khăn từ phương thức liên doanh (với Zarubezhneft)... có nhiều mâu thuẫn trong quyền được cung cấp vật tư, thiết bị, và lựa chọn đối tác nước ngoài”. (Có dạo tôi (TVK) nghe tin đồn Zarubezhneft muốn đem qua bán một số máy móc cũ nhưng không được Việt Nam chấp thuận);
- Ðây là lần đầu tiên Việt Nam triển khai một dự án lọc dầu quy mô trong khi PetroVietNam còn thiếu kinh nghiệm điều hành và quản lý dự án;
“Theo Chủ Tịch Phạm Quang Dự của Hội Ðồng Quản Trị của PetroVietNam thì dự án Dung Quất “đã bị động” ngay từ đầu: từ chủ trương phải liên doanh, đến không có đối tác liên doanh phải tự đầu tư, rồi lại liên doanh, cuối cùng lại tự đầu tư... làm chúng ta bị động, bởi cứ mỗi lần thay đổi chủ trương thì kéo theo nhiều thay đổi không chỉ về hình thức đầu tư mà còn về vốn liếng, công nghệ..., do đó mất nhiều thời gian.
Phía Quốc Hội
Ðoàn giám sát việc triển khai thực hiện Nghị Quyết Quốc Hội về dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội thành lập, sau mấy tháng làm việc, mới đây đã nhận định rằng phải tới cuối năm 2008 nhà máy mới có thể hoàn thành, và qua 2009 mới có thể đi vào sản xuất, tính ra là chậm tới 7 năm so với Nghị Quyết trước đây.
Ủy Ban đã đưa ra 5 nguyên nhân chính:
“Dự án chưa được chuẩn bị chu đáo, điều tra căn bản còn sơ sài, thẩm định chưa kỹ, chủ quan trong dự báo khả năng thu xếp tài chính;
“Chỉ đạo và tổ chức thực hiện dự án thiếu tập trung, không quyết liệt trong giải quyết những khó khăn, vướng mắc;
“Quản lý nhà nước về dầu khí nói chung, và về dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất nói riêng, còn có sự chồng chéo, thiếu nhất quán;
“Khi triển khai dự án cũng là lúc có khủng hoảng tài chính và tiền tệ trong khu vực, khó gọi vốn cho dự án;
“Ðây là nhà máy lọc dầu đầu tiên nên còn thiếu kinh nghiệm khi lập hồ sơ cũng như khi thi công.
Ðịa điểm Dung Quất
Ðiều đáng chú ý nhất trong tất cả các thẩm lượng, điều tra và nhận định nói trên là không thấy ai bàn đến việc ai và tại sao lại chọn lựa địa điểm Dung Quất. Hầu như tất cả các trở ngại và chậm trễ của dự án đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến địa điểm Dung Quất. Như một con voi nặng cả mấy ngàn kí ngồi chình ình trong phòng họp, ai cũng phải thấy đó là vấn đề cội nguồn căn bản, vậy mà không thấy ai nhắc nhở tới.
Tin đồn về ông Phạm Văn Ðồng
Khi công ty Total rút khỏi dự án lọc dầu vì Chính Phủ dời địa điểm ra Dung Quất, có đồng nghiệp trong kỹ nghệ dầu hỏa nói với tôi ông nghe dường như chính phủ Việt Nam chọn Dung Quất vì đó là sinh quán của Nguyên Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng. Lúc đó, Ông Ðồng đã về hưu nhưng vẫn còn là cố vấn lão thành và là đàn anh uy tín (Anh Tô) của các cấp lãnh đạo Cộng Sản đương thời.
Ông sinh tại huyện Mộ Ðức, tỉnh Quảng Ngãi, cũng gần khu Dung Quất. Ông có lẽ là một trong những vị Thủ Tướng tại vị lâu năm nhất trên thế giới, 32 năm từ năm 1955 đến năm 1987, và còn là Bộ Trưởng trong nội các mấy năm trước đó. Tuy là một lãnh tụ cao cấp nhưng ông thường ở ngoài các tranh chấp và các phe nhóm quyền lực nên nói chung ông có vẻ được kính nể. Ông mất năm 2000.
Tôi không hề biết tin đồn đó có đúng sự thực hay không. Tôi nói với đồng nghiệp rằng tuy tôi cũng sinh trưởng ở miền Trung, nhưng Dung Quất là “dự án sai ở chỗ nhầm” (wrong project in the wrong place). Khỏi cần phải làm các con tính phức tạp, tôi nói ngay là dân miền Trung nghèo, cần nhiều công ăn việc làm, nhưng lọc dầu và hóa dầu là những kỹ nghệ có cường độ tư bản cao nhất; đầu tư 1 - 2 tỉ đô la mà chỉ tạo ra được 1 - 2 ngàn công ăn việc làm, gần tới cả triệu đô la mới được một việc, trong khi đó thì phần lớn kỹ nghệ khác chỉ cần một vài chục ngàn đô la là tạo được một việc làm. Ngoài ra, một phần chủ yếu trong nhà máy lọc dầu là chi phí chuyên chở; vậy mà nếu tổng hợp cả nguồn dầu thô ở thềm lục địa miền Nam với hai thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn ở trong Nam và ngoài Bắc thì khó có địa điểm nào tệ hại hơn Dung Quất.
“Mình trình cho mấy ông một lần...”
Trong hai năm 1994-1995, khi làm việc với công ty Pennzoil, tôi có đi công tác ở Việt Nam hai lần. Trong các lần tiếp xúc, tôi có dịp nói chuyện xã giao với các cấp lãnh đạo của PetroVietNam hồi đó. Khi nói chuyện qua về dự án nhà máy lọc dầu, có người đã thẳng thắn thổ lộ với tôi: “Mình trình cho mấy ông một lần, mấy ông không nghe; mình trình lần nữa, mấy ông cũng không nghe. Sau cùng, mình thu thập ý kiến của chuyên viên ngoại quốc và cố vấn tài chính, trình lại thêm một lần nữa. Mấy ông cũng không nghe, làm sao bây giờ?”
Vị thế của PetroVietnam
Mới đây, báo Tuổi Trẻ đã hỏi Ông Phạm Quang Dự, Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị của PetroVietNam: “Một số đại biểu Quốc Hội cho rằng chúng ta đã chọn sai vị trí ngay từ đầu khi quyết định xây dựng nhà máy lọc dầu ở Dung Quất, ông nghĩ sao?”.
Ông đã trả lời như sau: “Việc chọn vị trí, địa điểm ban đầu có một sự cân nhắc rất lớn. Ðã có hẳn một bộ phận được Chính Phủ giao nghiên cứu về các địa điểm từ Bắc đến Nam và sau khi báo cáo cho Chính Phủ về kết quả của việc đi nghiên cứu, xem xét thì địa điểm phía Nam là địa điểm có lợi thế nhất về kinh tế, vì gần nguồn nguyên liệu, gần vùng tiêu thụ sản phẩm dầu nhiều nhất (tiêu thụ 60%-70%). Do đó, nếu nói địa điểm và lợi thế thì đương nhiên là phía Nam; các nhà đầu tư nước ngoài đều quan tâm tới địa điểm ở phía Nam.
Nhưng khi chính phủ xem xét ở cấp vĩ mô, lại chọn địa điểm ở miền Trung với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội miền Trung... muốn dùng dự án đầu tư này để làm động lực thu hút các nhà đầu tư, cũng như động lực phát triển kinh tế xã hội miền Trung.
Quyết định này nếu nhìn ở góc độ thuần túy kinh tế thì cũng có người băn khoăn, nhưng nếu nhìn tổng thể kinh tế xã hội ở tầm nhìn chiến lược thì khác.”
Lời thuật của nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt
Tôi rất ngạc nhiên khi đọc thấy nội dung thư ngỏ của Nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt gửi cho Quốc Hội ngày 10 tháng 6 vừa qua về dự án Dung Quất đăng ngay trên VietNamNet. Tôi cảm kích hành động của Ông Kiệt.
Ông cũng xác nhận đối tác thương thảo đầu tiên là công ty Total, muốn đặt địa điểm nhà máy lọc dầu ở Long Sơn, Vũng Tàu. Sau khi cứu xét, Chính Phủ nhận thấy không nên tập trung quá lớn những công trình trọng điểm quốc gia vào một khu vực Bà Rịa/Vũng Tàu/Phú Mỹ; ngoài ra, Long Sơn không có cảng nước sâu sẵn sàng thuận lợi. Do đó, Chính Phủ đã trình Bộ Chính Trị xin chuyển nhà máy lọc dầu ra miền Trung, tìm nơi có cảng nước sâu cho tàu chở dầu.
Ông nói có 3 địa điểm được gợi ra: Ba Ngòi gần Cam Ranh, Vân Phong ở Khánh Hòa, và Liên Chiểu ở Ðà Nẵng.
Lúc đầu không thấy Ông nói đến Dung Quất.
Theo trong thư, cả ba địa điểm đều đã bị loại bỏ vì những lý do tương đối mơ hồ: Ba Ngòi lúc ấy “có nhiều lý do chưa thể thu xếp được”; Vân Phong thì công ty Total từ chối “vì lý do cũng tương tự như trên”; Liên Chiểu thì cũng như Long Sơn vì “đã có nhiều kế hoạch đầu tư đang được triển khai”.
Theo như Ông Kiệt kể thì Dung Quất xuất hiện gần như là một sự tình cờ: “Sau buổi khảo sát Vân Phong, khi về làm việc tại Ðà Nẵng, được giới thiệu về vịnh Dung Quất, lại được nghe là đã có một nhóm chuyên gia khoa học về cảng nước sâu của ta đến đây khảo sát và đưa ra những kết luận khả quan”. Rồi Dung Quất được chọn lựa.
Và Ông xác nhận “Dung Quất có nhiều lợi thế để đặt nhà máy lọc dầu: nằm ở khu vực giữa Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng lãnh thổ đặc biệt quan trọng của đất nước.”
Với kết luận đó, địa điểm nhà máy lọc dầu đã được chọn lựa mà không thấy nhắc nhở đến nguồn dầu thô, thị trường tiêu thụ sản phẩm, và nghiên cứu kỹ lưỡng gì về hạ tầng cơ sở.
Ở cuối thư, Ông Kiệt xác nhận rằng nếu được xem xét lại, “tôi vẫn chọn Dung Quất”, và sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm nếu Quốc Hội phân tích và kết luận việc lựa chọn Dung Quất là sai.
Quyết định đi tới
Việc Nguyên Thủ Tướng Kiệt công khai nhận lãnh trách nhiệm là một điều rất đáng khen. Nhưng dù gì thì đó cũng là chuyện quá khứ. Ðiều quan hệ cho Việt Nam lúc này là quyết định đi tới, trong một tương lai đầy năng động và thử thách của sinh hoạt hội nhập kinh tế toàn cầu.
|
__________________
Blog của PhuongNN ở đây
The end is coming and coming fast (faster than we've thought)!
|