II (tiếp theo)
Ngoài hàng rào là Phin-ca. Cậu bé đã kịp đi chân không, mặc áo may ô, không quàng khăn đỏ, vẻ mặt cậu trông rất xúc động.
- Ta-nhi-a - cậu hét váng lên - đến chỗ mình nhanh lên! Bố mình cho mình mấy con chó kéo xe chính cống.
Nhưng Ta-nhi-a không ngừng đào. Tay em đã đen kịt vì đất, còn khuôn mặt thì bóng nhoáng lên.
- Làm gì có chuyện ấy - cô bé nói - cậu chỉ lừa mình thôi. Bố cậu đã kịp làm việc này khi nào vậy? Vì chúng mình cùng về thành phố hôm nay cơ mà.
- Không, thật đấy – Phin-ca nói - Bố mình mang chó về thành phố từ ba hôm trước và để nó trong kho chứa của bà chủ nhà. Bố mình muốn cho mình một món quà, và bố bảo gọi cậu lại mà xem.
Ta-nhi-a một lần nữa ngước lên nhìn Phin-ca chăm chú.
Rốt cục, cũng có thể là như vậy thật. Bởi vì người ta vẫn thường tặng trẻ con những thứ mà chúng mơ ước. Những người cha thường tặng con những món quà như thế - Ta-nhi-a đã đọc nhiều về chuyện này.
Em vứt con dao xuống luống hoa và đi qua cổng ra phố.
Phin-ca ở cách nhà Ta-nhi-a một cái sân. Cổng vào sân nhà cậu luôn luôn đóng im ỉm. Nhưng cậu đã mở rộng cổng cho Ta-nhi-a, và cô bé nhìn thấy lũ chó.
Bố Phin-ca ngồi cạnh chúng trên mặt đất và đang hút thuốc. Cái tẩu trong miệng ông rít to như hôm ngồi bên đống lửa trại trong rừng. Con hươu bị buộc vào hàng rào. Còn lũ chó thì nằm cạnh nhau, tất cả đều cụt đuôi - những con chó Lai-ca cụt đuôi chính cống. Không nhấc những cái mõm nhọn đang tì trên đất lên, lũ chó ngước nhìn Ta-nhi-a với ánh mắt hung dữ.
Bác thợ săn che khuất lũ chó cho Ta-nhi-a.
- Bọn này dữ lắm, cháu ạ - ông nói.
Phin-ca thêm:
- Giống chó này thuần chủng hơn chó Úc Đin-gô.
- Mình biết rõ giống chó này – Ta-nhi-a nói. – Nhưng dù sao đây cũng không phải là chó hoang Đin-gô. Buộc chó vào xe trượt đi bác.
Bác thợ săn hơi phân vân. Đóng chó vào xe trượt mùa hè à? Đây là một trò chơi không thích hợp. Nhưng cả cậu con trai cũng xin ông làm thế. Thế là bác thợ săn lấy trong kho ra một chiếc xe trượt tuyết nhẹ và một bồ đồ thắng rồi bắt lũ chó đứng lên. Chúng gầm gừ đứng dậy.
Ta-nhi-a ngắm nghía bộ yên cương lộng lẫy bọc bằng dạ và da. Những chùm lông trên đầu lũ chó phe phẩy như những chiếc chổi lông.
- Thật là món quà sang trọng – Ta-nhi-a nói.
Bác thợ săn rất phấn khởi vì được khen là ông bố hào phóng, tuy người khen chỉ là một cô bé.
Họ ngồi lên xe, Ta-nhi-a cầm thanh cai-u-rơ – cây gậy dài làm bằng gỗ tần bì, một đầu bịt sắt.
Lũ chó cứ loanh quanh, ra sức nhún mạnh chân sau rồi lao vút đi, kéo theo chiếc xe trên mặt đất trơ trụi. Vì sự sốt sắng này của lũ chó, bác thợ săn thưởng cho chúng một con cá khô lấy trong túi ra. Ông còn rút trong ngực áo ra hai con cá khô nữa, hai con cá dưa bé tí tẹo lấp lánh dưới ánh mặt trời, đưa cho cậu con trai và Ta-nhi-a. Phin-ca liền nhau rau ráu, còn Ta-nhi-a thì từ chối. Nhưng cuối cùng cô cũng ăn hết con cá của mình.
Bác thợ săn cho xe lao nhanh trên đường. Đã đến lúc ông phải từ giã thành phố này, ở đây con hươu của ông bị đói cả ngày. Ông đánh xe vào nhà kho và tháo chó ra khỏi xe. Sau đó ông tháo con hươu ra khỏi hàng rào và cho nó liếm muối trong lòng bàn tay ông. Đồ đạc đã chuẩn bị xong từ lâu.
Bác thợ săn chia tay hai đứa trẻ sau hàng rào. Ông chìa tay cho Ta-nhi-a, đầu tiên đưa một tay, sau đó đưa tay khác – như người ta vẫn thường bắt tay người hàng xóm khi tạm biệt – và ông mời em đi xe trượt tuyết do chó kéo đến chỗ ông chơi.
Còn con trai thì ông ôm vai.
- Nếu có thể - ông nói – con hãy trở thành một người thợ săn tốt bụng và một nhà khoa học giỏi. Rồi có lẽ nhớ lại những lời phàn nàn của anh phụ trách về cậu con trai, ông suy nghĩ và nói thêm: Nhớ phải quàng khăn đỏ trên cổ như qui định.
Ông đã đến gần chỗ rẽ, tay dắt hươu, nhưng còn quay lại nhìn lần nữa. Da mặt ông sạm đen dường như làm bằng gỗ, nhưng dù nhìn từ xa nét mặt ông trông vẫn niềm nở, Ta-nhi-a bỗng cảm thấy tiếc là ông đã biến mất nhanh như vậy sau chỗ rẽ.
- Bố cậu tốt thật đấy, Phin-ca ạ - Ta-nhi-a trầm ngâm nói.
- Ừ, mình rất yêu bố khi bố mình không đánh nhau.
- Hoá ra cũng có lúc bố cậu đánh nhau à?
- Ít thôi, và chỉ những lúc say.
- Thế đấy! – Ta-nhi-a lắc đầu.
- Chẳng lẽ bố cậu không bao giờ đánh nhau à? Hiện giờ ông ấy ở đâu? Mình chưa bao giờ thấy ông.
Ta-nhi-a nhìn vào mắt Phin-ca – trong đôi mắt ấy có sự tò mò hay nhạo báng không? Hình như chưa bao giờ em nói với Phin-ca về bố em.
Nhưng Phin-ca nhìn thẳng vào mặt Ta-nhi-a, mắt cậu chỉ lộ vẻ hồn nhiên, chất phác.
- Không bao giờ - cô bé nói – không bao giờ ông đánh nhau.
- Thế thì cậu phải yêu bố chứ.
- Không, mình không yêu.
- Thế đấy! - đến lượt Phin-ca ngạc nhiên. Và im lặng một lát, cậu bé khẽ chạm vào tay áo Ta-nhi-a – Sao thế? - cậu hỏi.
Ta-nhi-a cau mặt.
Ngay tức khắc Phin-ca im bặt, dường như bị chặn lời. Và có lẽ cậu bé sẽ chẳng bao giờ dám hỏi Ta-nhi-a một điều gì nữa. Nhưng Ta-nhi-a đột nhiên đỏ mặt lên:
- Mình hoàn toàn không biết ông ấy.
- Ông ấy chết rồi sao?
Ta-nhi-a chậm chạp lắc đầu.
- Thế ông ấy ở đâu?
- Ở xa, xa lắm. Có lẽ ở đâu bên kia đại dương.
- Có nghĩa là ở Mỹ?
Ta-nhi-a gật đầu.
- Mình đã đoán ra: ở Mỹ phải không? – Phin-ca nhắc lại.
Ta-nhi-a từ từ lắc đầu.
- Thế bố cậu ở đâu? – Phin-ca hỏi.
Đôi môi dày của Phin-ca hé mở. Quả thật Ta-nhi-a đã làm cho cậu sửng sốt.
- Cậu có biết An-giê-ri và Tuy-ni-di ở đâu không? – cô bé nói.
- Mình biết. Ở châu Phi. Có nghĩa là bố cậu ở đấy à?
Nhưng Ta-nhi-a lại lắc đầu, mặt buồn hẳn đi.
- Không, Phin-ca ạ. Cậu có biết một nước thế này không: Ma-rô-xây-ca?
- Ma-rô-xây-ca? – Phin-ca trầm ngâm nhắc lại theo Ta-nhi-a. Cái từ này làm cho cậu ta thích thú. – Có lẽ Ma-rô-xây-ca là một nước đẹp.
- Ừ, Ma-rô-xây-ca, - Ta-nhia nói khẽ - nhà số 40, phòng 53. Bố mình ở đấy.
Và cô bé biến vào sân nhà.
Phin-ca đứng lại ngoài phố một mình. Ta-nhi-a mỗi lúc một làm em ngạc nhiên. Thật tình, em hoàn toàn rối trí.
- Ma-rô-xây-ca – em nói. Có lẽ đó là một hòn đảo mà em đã quên mất trong kỳ nghỉ hè. Những hòn đảo đáng nguyền rủa này chẳng bao giờ nằm lâu trong trí nhớ em. Rốt cục em chỉ là một học sinh bình thường, một cậu bé sinh ra trong rừng rậm, trong túp lều da của người đi săn. Em cần những hòn đảo để làm gì cơ chứ?
|