II
Những cây hoa Xa-ran-ca mà hôm qua Ta-nhi-a đã dùng một cành cây nhọn bẩy lên khỏi mặt đất, đến sáng nay vẫn còn đẹp. Ta-nhi-a quấn rêu và cỏ ướt quanh rễ hoa, bọc những cọng hoa bằng một mảnh vỏ cây bạch dương tươi, và khi kẹp bó hoa dưới nách, đeo ba-lô lên lưng, thì ngay lập tức em biến thành một người lữ hành sẵn sàng đi đường trường.
Những thay đổi đã đến một cách bất ngờ. Trại hè quyết định đóng cửa, đưa bọn trẻ về thành phố, bởi vì bác sĩ đã phát hiện ra sương đêm rất hại đối với sức khoẻ. Làm thế nào được, mùa thu đã đến!
Quả thật cỏ thu đã mọc dày hơn, và đã một tuần nay, sáng sáng sương muối phủ đầy khu trại, lá cây trong rừng đọng sương đến tận trưa, tất cả những cái đó đều rất độc.
Tuy nhiên con đường trải ra phía trước Ta-nhi-a không phải là xa. Thật ra đó chính là con đường mà hôm qua chiếc ô-tô đã ầm ầm phóng qua. Mặc dù con đường chạy từ rừng này sang rừng nọ còn rất mới nhưng hôm nay nó phủ đầy bụi đá mà đến cả những cây linh sam già mọc ven đường cũng không sao ngăn lại được. Chúng chỉ có thể xua bụi bằng những cành cây của mình.
Ta-nhi-a thấy rõ điều này khi bước đi sau mọi người trong đám bụi vàng. Phin-ca và bố đi cạnh em, cuối cùng là con hươu. Hươu ta cũng chẳng thích bụi và những tiếng kèn đồng chói tai, cứ nửa giờ một lần, các nhạc công đi sau xe tải chở đồ đạc lại thổi. Đến khi các chiến sĩ hồng quân đi xe tăng vượt qua reo lên “hoan hô” với bọn trẻ thì hươu ta kéo dây cương mạnh đến nỗi tuột ra khỏi tay bác thợ săn rồi lao vào rừng giữa những hàng thông cao, mang theo cả túi đồ đạc thồ trên lưng. Vậy mà chính trong túi đồ này có những của cải quí báu nhất của Phin-ca và Ta-nhi-a.
Đành phải đi tìm con hươu vậy.
Mọi người đã tìm thấy hươu giữa hàng cây bạch dương mảnh khảnh cũng như hươu đang run rẩy vì sợ hãi.
Hồi lâu con hươu không muốn ra khỏi rừng. Nhưng cuối cùng khi bác thợ săn lại lôi được hươu ra đường, tiếng nhạc đã không còn nghe thấy nữa, bụi đã lắng xuống trên những vụn đá mà lúc trước nó bốc lên từ đấy. Những cây linh sam cũng thôi không lay cành nữa.
Mọi người đã đi xa về phía trước.
Không phải cái gì khác, mà chính việc này nguyên nhân khiến cho khi về đến thành phố với chiếc túi vải gai khoác vai và đôi giày vải rách nát vì vấp phải đá dăm dọc đường. Ta-nhi-a chẳng thấy ai ở nhà cả.
Mẹ không đợi được, đã đến bệnh viện đi làm như thường lệ, còn bà vú nuôi già thì ra sông giặt quần áo. Cửa ngõ đóng kín.
Ta-nhi-a đi vào sân.
Nhưng một người lữ hành thì cần gì nhiều? Uống nước lanh, ngồi trên cỏ, thõng tay xuống đất. Dưới chân hàng rào này là cỏ. Đám cỏ có vẻ thưa thớt hơn, sương đêm đã làm cho ngọn cỏ héo rũ, nhưng tuy vậy lúc gần tối, những con châu chấu mà có trời biết được bằng cách nào đã rơi vào thành phố vẫn nhảy tanh tách trong đó. Còn đây là nước. Thật ra nước này không trôi, không chảy thành dòng. Quanh năm nó vẫn ở trong một chiếc thùng bị buộc chặt vào một chiếc xe trượt tuyết cũ kỹ.
Ta-nhi-a mở nắp thùng và tẩm ướt chùm rễ hoa phủ rêu trắng để những đoá hoa uống no nước. Sau đó em cũng tự uống nước rồi đến gần lùm cây mọc bên phải bậc thềm. Cây thông to và cây bạch dương mảnh khảnh đứng yên lặng bên nhau. Cây thông hãy còn tươi tốt. Bông nó phủ kín đến hơn nửa sân. Nhưng còn cây bạch dương! Nó đã bắt đầu vàng úa.
Ta-nhi-a chạm vào thân cây trắng cồm cộm những khối xù xì.
“Cái gì thế này? Đã mùa thu rồi sao?” – em nghĩ.
Cây bạch dương trút một chiếc lá cong queo xuống lòng bàn tay đang giơ ra của em.
- Ừ - Ta-nhi-a nói – đã sang thu thật rồi. Tuy vậy những cây rẻ quạt dưới cửa sổ vẫn còn, và có lẽ cả những cây hoa Xa-ran-ca của mình cũng sẽ còn sống được ít lâu nữa. Nhưng mọi người đi đâu cả rồi nhỉ?
Đúng lúc ấy Ta-nhi-a nghe thấy bên cạnh mình có tiếng động khẽ và tiếng gừ gừ. Hoá ra đó là con mèo già Ca-dắc dẫn lũ mèo con đến và bắt chúng nhảy trước mặt Ta-nhi-a. Sau đó con vịt chạy đến, mỏ ngậm một con giun.
Qua mùa hè, lũ mèo con lớn hẳn lên, ngay cả con mèo bé nhất tên là A-ri-ôn (Phượng Hoàng) cũng không còn sợ cả giun lẫn vịt nữa.
Tiếp đó, con chó hiện ra ở cửa hàng rào. Thân hình nhỏ bé với cái đầu to tướng, ít nhất nó cũng đã khoảng mười tuổi rồi.
Nhận ra Ta-nhi-a, con chó dừng lại ở cổng, và trong đôi mắt già nua kèm nhèm của nó hiện lên vẻ ngượng ngùng – nó cảm thấy xấu hổ vì không phải là kẻ đầu tiên biết được Ta-nhi-a đã trở về. Bất giác nó lùi lại phía sau, làm ra vẻ tuyệt nhiên không nhận thấy Ta-nhi-a. Trong cuộc đời một con chó cũng có những trường hợp khó xử như vậy. Nó quay ngoắt về phía chiếc xe chở nước, thậm chí không vẫy đuôi. Nhưng tất cả những ý đồ tinh ranh của nó đã bị tiêu tan trong chốc lát khi Ta-nhi-a vừa gọi tên nó:
- Chi-grơ (Hổ)
Ngay lập tức con chó nhảy cẫng trên những cái chân ngắn ngủi và lao về phía Ta-nhi-a, rúc vào đôi đầu gối khép chặt của cô.
Ta-nhi-a vuốt ve hồi lâu cái đầu phủ lông ngắn và thô của con chó, dưới lớp da đầu nó đã xuất hiện những vết lồi lõm của tuổi già.
Vâng, tất cả đều là những con vật già nua yếu ớt tuy mang những cái tên dữ tợn.
Ta-nhi-a âu yếm nhìn con chó.
Khi ngước mắt lên, Ta-nhi-a nhận thấy bà vú nuôi - một bà già có nhiều nếp nhăn hằn trên mắt và đôi mắt đã mờ đi vì tuổi tác.
Đặt xô quần áo xuống đất, bà vú nuôi hôn Ta-nhi-a và nói:
- Ôi, cháu đen quá, chẳng kém gì thằng Phin-ca của cháu cả. Mẹ cháu không có nhà. Mẹ cháu đã đợi, đợi mãi nhưng cuối cùng không đợi được nữa nên đã đi làm. Như thế là chỉ có bác cháu mình ở nhà thôi. Bác cháu mình thì bao giờ cũng một mình. Cháu có muốn bác đặt ấm xa-mô-va không? À, thế cháu có ăn qua loa gì không? Bác cũng chẳng biết ở trại hè người ta cho các cháu ăn uống gì nữa. Chắc là nuốt không nổi.
Không, Ta-nhi-a không muốn ăn.
Em mang túi vào nhà, đi qua những căn phòng yên tĩnh, sờ vào những quyển sách nằm trên giá.
Bà vú nuôi nói đúng. Thường thường Ta-nhi-a chỉ có một mình - một mình làm chủ những phút rỗi rãi và những ước mơ của riêng em. Nhưng chỉ một mình em biết, thứ tự do này đã đè nặng em đến thế nào. Trong nhà không có anh chị, cũng chẳng có em bé. Cả mẹ cũng thường đi vắng. Ngực em thắt lại bởi một cảm giác cay đắng và dịu dàng làm rưng rưng nước mắt. Cảm giác ấy từ đâu đến? Phải chăng từ hơi ấm bàn tay và khuôn mặt người mẹ, hay là từ hơi quần áo của mẹ, hay từ cái nhìn của mẹ, cái nhìn dịu hiền luôn luôn ánh lên vẻ quan tâm mà Ta-nhi-a mãi mãi mang theo khắp nơi trong ký ức mình?
Trước kia mỗi lần mẹ đi ra khỏi nhà là Ta-nhi-a oà khóc, nhưng bây giờ em nghĩ về mẹ với một tình cảm trìu mến.
Ta-nhi-a không hỏi bà vú nuôi là bao giờ mẹ về. Em chỉ sờ vào chiếc váy của mẹ treo trong tủ, ngồi vào giường mẹ rồi lại đi ra sân. Cuối cùng thì cũng phải tìm cách nào thu xếp cho những cây hoa mà em đã nhổ ở bãi lầy trong rừng về.
- Nhưng đã đến mùa thu rồi, Ta-nhi-a ạ - bà vú nuôi nói – Còn có hoa gì bây giờ nữa?
- Ồ, mùa thu gì ở đây, bác nhìn mà xem – Ta-nhi-a trả lời.
Như thường lệ, mùa thu ở thành phố này không có sương mù. Những dãy núi ngoại ô sẫm màu lá thông như vào mùa xuân, trên cánh rừng già mặt trời mãi vẫn chưa ngả xuống, và những bông hoa to không hương vẫn mọc dưới cửa sổ trong sân.
Thực ra, có lẽ những cây Xa-ran-ca cũng chẳng sống được bao lâu nữa. Nhưng nếu chúng héo đi thì rễ chúng vẫn sẽ nằm trong lòng đất.
Bằng một con dao to, Ta-nhi-a đào trên mặt đất vài cái hố nhỏ thành hàng rồi lấy mấy cái que nhỏ để chống cho những cành hoa Xa-ran-ca.
Con Chi-grơ lại đi giữa những luống hoa và cứ hít mãi những bông hoa. Hít xong, nó ngẩng cái đầu to tướng của mình lên và nhìn ra phía hàng rào. Ta-nhi-a cũng nhìn ra đó.
|