View Single Post
  #59  
Cũ 24-06-2008, 21:53
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Bí mật những năm sau chiến tranh.
Những tài liệu (trước đây là mật) về các công trình nghiên cứu được tiến hành ở viện nghiên cứu tự động hoá dưới sự hướng dẫn của N.Ya. Matiukhin được A.V. Zalkin chuyển cho tác giả (cuốn sách).
“Năm 1957 chúng tôi quyết định chuyển vào Viện nghiên cứu khoa học tự động hoá của Bộ công nghiệp điện tử để nghiên cứu phương án xô viết của hệ thống phòng không Mỹ. Chúng tôi – đó là Matiukhin trưởng nhóm, Zalkin, Rosnhitsky, Shurov.
Viện này được thành lập năm 1956, G.L.Shorin là giám đốc và tổng công trình sư thiết kế hệ thống phòng không nói trên. Năm 1958 nhóm chúng tôi bắt tay dựng mô hình hệ thống “Trái đất”.
Trong hệ thống “Trái đất” tất cả bắt đầu từ máy điện báo. Thông tin về “mục tiêu di động” trong mạng toạ độ của hệ thống phòng không được truyền theo mạng lưới điện báo. Trong khi làm việc, nhân viên điện báo sẽ truyền chúng cho người vận hành trạm quản lý kỹ thuật số, những người này sẽ mã hoá các số liệu rời rạc. Số liệu từ trạm quản lý được chuyển đến thiết bị xử lý và cho ra kết quả là hướng di chuyển của mục tiêu trong hệ toạ độ vuông góc. Số liệu cuối cùng được lưu giữ trên trống từ đóng vai trò một bộ đệm. Từ trống từ, số liệu được đưa vào máy tính điện tử để xử lý lần thứ hai và đưa vào vị trí công tác là một ống phóng tia điện tử đặc biệt. Các chữ cái, chữ số và các đại lượng logic được tái hiện bằng phương pháp giấu tia.
Toàn bộ mô hình được hoàn thành trong thời gian cực ngắn và hội đồng quốc gia cũng kết thúc công việc trong quý 2 năm 1960.Đánh giá cuối cùng là kém do kích thước lớn và thiếu tin cậy ở những phần dùng đèn điện tử. Từ đó đã có quyết định cấm hoàn toàn việc sử dụng đèn điện tử trong những nghiên cứu tiếp theo của chúng tôi.
Nhắc đến mô hình “Trái đất” là để làm nổi bật những thành tựu tiếp theo của chúng tôi. Trải qua 15 năm, Viện đã tạo ra một mạng lưới toàn cầu bao gồm hơn 20 trung tâm kết nối thông tin. Mạng lưới này đảm bảo trao đổi thông tin liên tục quanh năm trong hệ thống phòng không.
Việc nghiên cứu chế tạo máy tính điện tử bán dẫn đầu tiên trong nước “Tetiva” dùng cho mạng lưới này được tiến hành dựa trên mô hình mẫu năm 1960. “Tetiva” là máy tính trong nước đầu tiên có sử dụng vi chương trình lưu ở ma trận DZU trong bộ phận điều khiển. Sau đó điều khiển vi chương trình được áp dụng trong máy tính điện tử NAIRI (1964), máy tính MIR và EC-1020.
Bộ phận số học của máy “Tetiva chỉ dùng mã thuật toán trực tiếp. Bộ phận số học đó nổi tiếng vì đắt nhưng nhanh nhất và có khả năng tự kiểm tra.
Chương trình của “Tetiva” được lưu giữ trong DZU. Điều đó đảm bảo cho nói chạy trơn tru không trục trăc. Việc sản xuất máy “Tetiva” do nhà máy ở Minsk thực hiện. Năm 1962 đã có 8 máy tính được lắp đặt ở nơi sử dụng. Việc đưa thông tin vào “Tetiva” trước tiên được thực hiện nhờ các nút bấm “Knupfel” để loại những đặc tính tình trạng - toạ độ ban đầu của đối tượng khỏi màn ảnh ống tia điện tử. Chương trình trong máy tính điện tử bảo đảm theo dõi việc này nửa tự động.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (25-06-2008)