Chương mười một
Giành chính quyền
TUYÊN NGÔN VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC NƯỚC NGA
Tháng 6 năm nay, Đại hội Xô - viết lần thứ nhất đã tuyên bố quyền tự quyết của các dân tộc nước Nga.
Tháng 11, Đại hội Xô - viết lần thứ hai đã hoàn toàn xác nhận và định rõ quyền không thể mất được đó của các dân tộc nước Nga.
Tuân theo ý muốn của các Đại hội nói trên, Hội đồng uỷ viên nhân dân đã quyết định lấy kỳ những nguyên tắc sau đây làm cơ sở cho hành động của mình trong vấn đề dân tộc:
1 - Các dân tộc nước Nga có quyền bình đẳng và chur quyền
2 – Các dân tộc nước Nga có quyền tự quyết, kể cả quyền được tách ra hoàn toàn và thành lập Quốc gia độc lập.
3 – Mọi đặc quyền và mọi hạn chế có tính chất dân tộc hoặc tôn giáo đều bãi bỏ.
4 – Các dân tộc thiểu số và các nhóm dân tộc sống trên đất Nga được tự do phát triển.
Các sắc lệnh chấp hành sẽ được thảo ngay sau khi thành lập Uỷ ban dân tộc.
Thay mặt nước Cộng hoà Nga:
Uỷ viên dân tộc
I-ô-xíp GIU–GÁT–SƠ-VI–LI XTA–LIN
Chủ tịch Hội đồng uỷ viên nhân dân
V.U-LI-A-NỐP (LÊ – NIN)
14 tháng 11 năm 1917
Lập tức Viện Ra -đa trung ương ở Ki-ép tuyên bố U-Cơ-ren thành nước cộng hoà độc lập, và chính phủ Phần - lan thông qua Thượng nghị viện ở Hen- xinh - pho, cũng tuyên bố độc lập. Các “chính phủ” độc lập mọc lên ở Xi- bê- ri và ở Cô-ca-dơ. ở Ba-lan, Uỷ ban chiến tranh tối cao vội vàng gọi tất cả quân đội và thiết lập một kỷ luật sắt.
Tất cả các “chính phủ” và các “phong trào” đó có hai điểm giống nhau là đều do các giai cấp hữu sản lãnh đạo và đều sợ và thù ghét chủ nghĩa Bôn-xê- vích.
Trong tình trạng rối ren lộn xộn đó, Hội đồng uỷ viên nhân dân kiên quyết xây dựng trật tự xã hội chủ nghĩa và lần lượt ban bố các sắc lệnh về bảo hiểm xã hội và quyền kiểm sát của công nhân, về các Uỷ ban ruộng đất hàng tổng. Về việc xóa bỏ các chức tước, về việc thủ tiêu các toà án cũ và thành lập các toà án nhân dân.
Các đoàn đại biểu lục quân và hải quan liên tiếp kéo đến mang theo những “ lời chúc tụng nồng nhiệt tới chính phủ mới của nhân dân”.
Một hôm, tôi trông thấy ở trước Viện Xmon- ni một trung đoàn quần áo rách rưới tả tơi ở ngoài mặt trận về. Binh lính, gầy gò và xanh xao, đứng dàn ở trước cổng lớn; họ nhìn cả về phía Viện, tưởng chừng như có Thượng đế hiện hình ở trong đó. Một vài người vừa cười vừa chỉ lên hình những con đại bàng tượng trưng cho chế độ Nga hoàng ở trên cửa chính. Các xích vệ tới đổi phiên gác. Tất cả toán lính quay lại nhìn họ một cách tò mò như khi người ta quay lại nhìn một cái gì đó mà người ta đã nghe nói tới, nhưng chưa trông thấy bao giờ. Rồi họ cười một cách đầy thiện cảm và ra khỏi hàng, đến vỗ vai xích vệ và nói với họ những lời nửa đùa, nửa khâm phục….
Chính phủ lâm thời không còn nữa. Ngày 15 tháng 11, trong khắp các nhà thờ ở Pê-tơ-rô-gơ-rát, số đạo không cầu kính cho Chính phủ lâm thời nữa. Nhưng như Lê-nin đã nói tại Uỷ ban trung ương Xô-viết toàn Nga, đây mới chỉ là “bắt đầu giành chính quyền”. Phe đối phương vẫn còn thống trị đời sống kinh tế trong nước; bị mất vũ khí, chúng bèn tổ chức phá hoại, và chúng mang hết tài năng sức lực ra – cái biệt tài sẵn có của người Nga trong việc tổ chức hànhđộng chung - để gây khó khăn trở ngaị nhằm làm cho các Xô-viết bị tê liệt và mất tín nhiệm.
Cuộc bãi công của công chức, sắp đặt rất chu đáo. được các nhà băng và các hãng buôn trợ cấp tiền. Mọi hành động của những người Bôn-sê-vích để chiếm lấy bộ máy chính phủ đều vấp phải một sức kháng cự mạnh mẽ.
Tơ-rốt-xki đến bộ Ngoại giao. Nhân viên tại đó không công nhận ông và đóng cửa phòng giấy lại, đến khi phá được cửa vào thì họ xin từ chức. Tơ-rốt-xki hỏi chìa khoá phòng lưu trữ công văn, nhưng chỉ khi đưa công nhân tới để bẻ ổ khoá họ mới chịu nộp chìa. Người ta khám phá ra rằng Nê-ra-tốp, nguyên thứ trưởng, đã chuồn từ bao giờ, mang theo những hiệp ước mật.
Sơ-li-áp-ni-cốp đến nhậm chức tại bộ Lao động. Trời rất rét mà chẳng có ai để đốt lửa. Trong số mấy trăm viên chức có mặt tại đó, không một ai chỉ cho ông phòng lamf việc của bộ trưởng ở đâu…
Bà A-lếch-xăng-đơ-ra Cô-lông-tai được cử làm uỷ viên Cứu tế xã hội ngày 13 tháng 11, khi tới chỗ làm việc đã bị toàn thể viên chức, trừ có bốn mươi người, đón tiếp bằng một cuộc bãi công. Những người nghèo ở các nhà tế bần, ở trong một tình trạng thiếu thốn khủng khiếp. Các phái đoàn những người tàn tật sắp chết đói, các đoàn trẻ mồ côi mặt mày xanh xao gầy go. đến bao vây trụ sở bộ. Bà Cô-lông-tai mắt đẫm lệ, ra lệnh giam các người bãi công cho tới khi họ trao lại chìa khoá các phòng giấy và các két bạc. Khi có chìa khoá rồi, bà mới hay rằng bộ trưởng cũ, nữ bá tước Pa-ni-na, đã mang tiền quỹ đi và từ chối không chịu hoàn lại nếu không có lệnh của Hội nghị lập hiến.
Tại các bộ Nông nghiệp, Tiếp tế và Tài chính cũng xảy ra những việc tương tự. Người ta ra lệnh cho các viên chức phải tiếp tục đi làm không sẽ mất việc và mất quyền hưởng hưu trí, nhưng hoặc là họ không đếnlàm việc, hoặc là họ đến để tiến hành phá hoại. Hầu hết các giới trí thức chống đối chủ nghĩa bôn-sê-vích, và Chính phủ Xô-viết không sao mộ được nhân viên mới…
Các nhà băng tự đóng chặt cửa, chỉ có bọn đầu cơ là vào được bằng cổng hậu. Khi các uỷ viên bôn-sê-vích tới, nhân viên dấu hết sổ sách rồi chuồn mất mang theo tiền quỹ. Tất cả nhân viên Ngân hàng Quốc gia bãi công trừ những người phụ trách kho bạc và in giấy bạc ; những người này không chịu trao tiền cho Xmôn-ni, nhưng lại dấm dúi trả những số tiền kếch xù cho Uỷ ban Cứu quốc và Viện Đu-ma thành phố.
Hai lần, một uỷ viên tới với một đại độ xích vệ để đòi những số tiền lớn cần thiết cho việc chi tiêu của chính phủ. Lần thứ nhất tới thì gặp một số rất đông uỷ viên Viện Đu-ma thành phố và lãnh tụ các đảng Men-sê-vích và xã hội cách mạng; chúng đưa ra những lời doạ dẫm về hậu quả của hành động uỷ viên, đến nỗi viên này phải chùm. Lần thứ hai, uỷ viên đó lại tới với một công lệnh. Ông ta đọc lệnh đó với tất cả các nghi thức, nhưng có người nhận xét là lệnh này không đề ngày tháng và không đóng dấu, và cái truyền thống tôn trọng các "văn bản chính thức" của dân Nga lại khiến ông ta phải rút lui…
Nhân viên nhà Ngân hàng tín dụng huỷ các sổ sách khiến mọi tài liệu về những quan hệ tài chính giữa nước Nga với các nước ngoài đều bị mất.
Các uỷ ban tiếp tế, nhân viên các công sở thành phố có tính chất lợi ích công cộng, hoặc không làm việc nữa, hoặc phá hoại. và khi những người Bôn-sê-vích, trước nhu cầu cấp thiết của nhân dân thành phố, muốn giúp đơc hoặc lãnh đạo các công sở đó thì tất cả các nhân viên lập tức bãI công và Viện Đu-ma tung ra tràn ngập nước Nga những điện văn tố cáo những người Bôn-sê-vích "vi phạm nền tự trị thành phố".
Tại các ban tham mưu, trong các phòng giấy các bộ Chiến tranh và Hải quân tại đấy có những công chức già ở lại làm việc, các uỷ ban quân đội và bộ tổng chỉ huy tìm mọi cách gây khó khăn cho công viêc của các Xô-viết, dù cho có thể phương hạ cả đến tình hình quân đội ở ngoài mặt trận. Công đoàn đường sắt chống đối và không chịu chuyên chở quan lính Xô-viết; mỗi lần lấy tàu để chở quân đội lại phải dùng tới vũ lực và bắt giam một số viên chức đường sắt, và mỗi lần như vậy, Công đoàn đường sắt lại doạ tổng bãi công để đòi thả những người bị bắt…
Xmon-ni rõ ràng bất lực. Báo chí nói rằng trong ba tuần nữa, tất cả các nhà máy ở Pê-tơ-rô-gơ-rat sẽ phải đóng cửa vì thiếu nhiên liệu. Công đoàn đường sắt báo là đến ngày 01 tháng 12, tàu sẽ ngừng chạy. Pê-tơ-rô-gơ-rat chỉ còn đủ lương ăn trong 3 ngày mà không còn có lương thực trở đến nữa. Ngoài mặt trận, quân lính đói dài... Uỷ ban cứu quốc và các Uỷ ban Trung ương khác gửi đi khắp nước những lời kêu gọi nhân dân đừng tuân theo những sắc lệnh của Chính phủ. Các đại xứ quán các nước đồng minh tỏ thái độ hoặc thờ ơ lạnh nhạt, hoặc thù nghịch ra mặt...
Báo chí đối lập, cứ cấm hôm trước thì hôm sau lại xuất hiện dưới một tên khác, không ngớt đả kích Chế độ mới bằng những lời châm biếm cay chua. Ngay cả đến tờ Đời mới cũng định nghĩa chế độ mới là “một sự kết hợp giữa chính sách mị dân và sự bất lực”. Tờ báo viết:
Mỗi ngày, chính phủ của các ủy viên nhân dân lại thêm lúng túng trước những nhu cầu quái ác hàng ngày. Những người bôn-sê-vích đã cướp được chính quyền một cách dễ dàng, nhưng họ không thể sử dụng được nó.
Bất lực không nắm được tổ chức chính quyền sẵn có, họ cũng lại không thể lập ra được bộ máy mới: bộ máy này, nếu hoạt động được trơn tru dễ dàng thì sẽ có thể thỏa mãn những yêu cầu của những thí nghiệm xã hội chủ nghĩa của họ.
Thực vậy, ngay mới chỉ làm công tác đảng của họ, những người bôn-sê-vích cũng đã thiếu người mà đây mứoi chỉ là công việc múa lưỡi và múa bút: vậy thì họ đào đâu ra được nhân viên cần thiết để làm những công tác chuyên môn và phức tạp của Nhà nước?.
Chính phủ mới cựa quậy và làm rùm beng, tung ra tràn ngập nước nga những sắc lệnh, cái nào cũng “cấp tiến” và “xã hội” hơn cái nào khác.
Nhưng trong cái chủ nghĩa xã hội trên giấy tờ đó – nó sẽ chỉ làm cho con cháu chúng ta ngạc nhiên – người ta không thấy có ý muốn hoặc khả năng giải quyết những vấn đề hiện tại.
Trong khi đó, Hội nghị thành lập chính phủ mới do Công đoàn đường sắt triệu tập, tiếp tục họp ngày họp đêm. Trước kia, hai bên đã nhất trí trên nguyên tắc về nền tảng của chính phủ mới sau này. Vấn đề thành phần của Hội đồng nhân dân đang được thảo luận và người ta đã đồng ý với nhau là bước đầu hãy thử lập một chính phủ với Tréc-nốp làm thủ tướng. Một thiểu số bôn-sê-vích quan trọng được chấp nhận vào chính phủ đó, nhưng Lê-nin và Tơ-rốt-xki thì bị gạt ra ngoài. Các ủy ban trung ương các đản men-sê-vích và xã hội cách mạng cũng như ủy ban chấp hành các Xô-viết nông dân, tuy rằng chống đối đến cùng “chính sách tội lỗi” của những người bôn-sê-vích, đã quyết định không ngăn cản việc họ gia nhập Hội đồng nhân dân “để chấm dứt cuộc huynh đệ tương tàn”.
|