Chúng tôi cứ đi mãi, chẳng thấy gì, tới một chỗ thưa cây thì dừng lại. Xa xa, ở một khoảng cách, thấy ba người lính ngồi quanh đống lửa, vẻ vô tư lự, Vơ-la-đi-mia Ni-cô-lai-ê-vích tiến về phía họ. Vững dạ vì đằng sau mình có một khẩu pháo, hai mươi tay súng và một bom gơ-ru-bít sẵn sàng làm việc, anh ta cất tiếng chào to :
- Chào các đồng chí !
Mấy người lính giật mình đứng choàng dậy.
- Tại sao lại có tiếng súng ở đây lúc nãy thế ?
Hoàn hồn, một người lính trả lời :
-À, chúng tôi bắn một đôi thỏ ấy mà…
Chiếc xe lại tiếp tục đi về phía Rô-ma-nô-vô. Tới ngã tư đầu tiên, hai người lính giơ súng nhảy xổ ra phía trước chúng tôi. Chúng tôi dừng lại.
- Các đồng chí cho xem giấy thông hành.
Đám xích vệ kêu la ầm ĩ :
- Chúng tôi là xích vệ. Không phải cho ai xem giấy thông hành cả … Thôi, đi đi … Mấy thằng cha này thật lắm chuyện !
Nhưng một thủy thủ có ý kiến :
- Các đồng chí, chúng ta làm thế không đúng ! Phải tôn trọng kỷ luật cách mạng. Thử nghĩ xem giả dụ có một lũ phản cách mạng kéo nhau tới rồi nói : “Chúng tôi không cần có giấy thông hành !”. Các đồng chí này có biết chúng ta là ai đâu.
Một cuộc tranh luận nổ ra. Nhưng rồi lần lượt ai nấy đều đồng ý với anh thủy thủ. Vừa lầu nhầu, họ vừa đưa ra những giấy tờ thông hành cáu ghét. Tờ nào cũng giống nhau, chỉ trừ có giấy của tôi là khác, vì do bộ tham mưu cách mạng ở Xmon-ni cấp. Hai người lính bắt tôi phải đi theo họ. Đám xích vệ cực lực phản đối, nhưng người thủy thủ lúc nãy phát biểu lại nói :
- Chúng ta thì đều biết rõ đồng chí này là đồng chí tốt rồi. Nhưng lệnh của Ủy ban thì ta phải tuân theo. Đó là kỷ luật cách mạng …
Muốn khỏi lôi thôi, tôi xuống xe. Chiếc xe mở máy đi ; mọi người đều vẫy tay chào tôi. Hai người lính thầm thì với nhau một lúc, rồi dẫn tôi đến một bức tường bảo tôi đứng dựa vào. Tôi chợt hiểu : họ sắp sửa bắn tôi.
Xung quanh tịnh không một bóng người. Chỉ có cách đường khoảng vài trăm thước một chút khói từ một ngôi nhà gỗ nhỏ bốc lên. Hai người lính đi ra phía đường. Tôi chạy theo họ một cách tuyệt vọng :
- Các đồng chí trông đây, đây là dấu của Ủy ban quân sự cách mạng.
Họ bần thần nhìn giấy thông hành của tôi, rồi đưa mắt nhìn nhau. Một người khăng khăng nói :
- Giấy của anh không giống các giấy khác. Chúng tôi không biết đọc, người anh em ạ.
Tôi nắm cánh tay anh ta :
- Chúng ta hãy cùng đi tới ngôi nhà đằng kia, chắc thế nào cũng có người biết đọc.
Họ ngần ngừ. Một người nói :
- Không.
Nhưng người kia nhìn kỹ vào mặt tôi, rồi lẩm bẩm :
- Sao lại không ? Dù sao giết một người vô tội cũng là một tội lớn.
Thế là chúng tôi đi tới ngôi nhà và gõ cửa. Một người đàn bà thấp béo ra mở cửa. và khi thấy chúng tôi thì kinh hãi lùi lại, lúng túng nói :
- Tôi không biết, tôi không trông thấy chúng.
Một người lính đưa giấy của tôi cho bà ta. Bà ta sợ kêu lên một tiếng.
- Chúng tôi chỉ muốn đồng chí đọc hộ giấy này thôi.
Bà ta ngần ngại cầm lấy giấy và đọc thật nhanh :
Người mang giấy này, Gion Rít, là một đại biểu của nền xã hội dân chủ Mỹ, một người quốc tế chủ nghĩa…
Ra đến đường, hai người lính lại thảo luận. Sau cùng học quyết định :
- Anh phải đi với chúng tôi đến ủy ban trung đoàn.
Trong cảnh hoàng hôn xuống mau, chúng tôi lại lội bùn đi trên đường. Thỉnh thoảng lại gặp từng toán lính ; họ đứng lại, vây quanh tôi và trừng mắt nhìn tôi, truyền nhau xem tờ giấy thông hành của tôi và thảo luận với nhau xem có nên đêm tôi ra bắn không.
Tối mịt, chúng tôi mới đến doanh trại bộ đội bộ binh thứ hai của Xác-côi-ê, một dãy nhà thấp dọc theo đường cái. Binh lính đang đi dạo trước cửa xúm xít lại hỏi. Gián điệp à ? Một thằng khiêu khích à ? Chúng tôi lên một cầu thang xoắn ốc và tới một phòng lớn trần trụi. Giữa phòng có một bếp sưởi lớn, và trong phòng, trên những ổ rải ngay ở sàn nhà, khoảng một nghìn người đang đánh bài, nói chuyện, ca hát hoặc ngủ. Trên trần, có một lỗ thủng lớn do đạn đại bác của Kê-ren-xki.
Tôi dừng lại ở cửa ; mọi người thốt nhiên yên lặng và nhìn về phía tôi. Rồi bỗng họ đứng lên tiến lại tôi, mới đầu còn chầm chậm, sau như sấm sét, với nét mặt đầy căm hờn. Một người gác tôi kêu lên :
- Các đồng chí ! Các đồng chí ! Ủy ban ! Ủy ban đâu ?
Họ dừng lại quanh tôi, lầu bầu. Một thanh niên đeo băng tay đỏ, lách đám đông vào, gắt gỏng hỏi :
- Ai đấy ?
Các người lính kể chuyện. Anh ta nói :
- Đưa xem giấy đó.
Sau khi đọc lỹ lưỡng mảnh giấy, vừa đọc vừa thỉnh thoảng liếc nhìn tôi, anh ta mỉm cười và trả lại giấy.
- Các đồng chí ! Đây là một đồng chí Mỹ. Tôi là chủ tịch Ủy ban, xin có lời chào mừng đồng chí tới thăm trung đoàn…
Mọi người thở phào, rồi nhao nhao lên chào hỏi. Họ chem nhau tới bắt tay tôi.
- Đồng chí chưa ăn à ? Chúng tôi đã ăn rồi. Để chúng tôi đưa đồng chí tới buồng ăn các sĩ quan. Có người biết nói tiếng của đồng chí …
Anh ta dẫn tôi qua sân, tới cửa vào một nhà khác. Ngay lúc đó, một người trẻ tuổi, bộ điệu quý phái, đeo cấp hiệu trung úy, bước vào. Đồng chí churt ích giới thiệu tôi, bắt tay rồi cáo từ. Viên trung úy nói tiếng Pháp rất sõi :
- Tên tôi là Xtê-pan Gioóc-giê-vích Mô-rốp-xki. Tôi sẵn sàng giúp đỡ ông.
Từ căn phòng ngoài đó trang trí rất lịch sự, có một cầu thang lỗng lẫy đèn chiếu áng choang dẫn lên tầng ba ; ở đầu cầu thang thấy các cửa mở vào phòng chơi bi-a, phòng đánh bài, phòng đọc sách. Chúng tôi vào phòng ăn ; ở giữa, quanh một cái bàn dài, chừng hai chục sĩ quan đang ngồi. Họ đều mặc lễ phục, đeo kiếm cán bịt vàng và bạc, và đeo các huân chương của Nga hoàng. Thấy tôi vào, ai nấy đều đứng dậy rất lịch sự và xê ghế cho tôi ngồi cạnh viên đại tá, dáng người đường bệ, râu đã hoa râm. Các lính hầu, bộ dạng thông thạo, mang thức ăn ra. Không khí ở đây là không khí ở châu Âu. Thế thì cách mạng ở cái chỗ nào ? Tôi hỏi Mô-rốp-xki :
- Các ông không phải là bôn-sê-vich à?
Mọi người đều cười mỉm, nhưng tôi nhác thấy vài người liến nhìn lính hầu. Ông bạn tôi trả lời :
- Không. Trong trung đoàn chỉ một sĩ quan bôn-sê-vich, nhưng anh ta đi Pê-tơ-rô-gơ-rát vắng. Đại tá là men-sê-vích, đại úy Ke-lốp đây, kia là K.Đ., còn tôi là xã hội cách mạng cánh hữu … Tôi cho là phần lớn các sĩ quan trong quân đội không phải là bôn-sê-vich nhưng cũng như tôi, họ là dân chủ ; họ nghĩ rằng phải theo quần chúng binh lính …
Sau bữa ăn, người ta mang các bản đồ lại. Viên đại tá trải bản đồ ra bàn, mọi người xúm quanh. Viên đại tá vừa trỏ những vạch bút chì vừa nói :
- Đây, vị trí chúng ta sáng nay là ở đây, Vơ-la-đi-mia Ki-ri-lô-vích, đại đội của ông ở đâu ?
Đại úy Ke-lốp đặt ngó tay lên bản đồ.
- Theo lệnh, chúng tôi đã đóng dọc con đường này. Đến 5 giờ thì Các-xa-vin đã đến thay tôi.
Lúc đó, cửa mở và viên chủ tịch ủy ban trung đoàn bước vào, theo sau là một người lính nữa. Họ nhập vào đám đông xúm quanh viên đại tá và cùng theo dõi trên bản đồ. Viên đại tá nói :
- Được ! Trong khu chúng ta, bọn Cô-dắc đã ráu lui mười cây số. Tôi cho là không cần phải chiếm đóng những vị trí tiền tiêu. Như vậy thì đêm nay các ông cứ giữ vững chiến tuyến hiện tại và củng cố các vị trí bằng …
Viên chủ tịch uỷ ban trung đoàn ngắt lời :
- Xin lỗi ! Ở trên chỉ thị phải tiến nhanh và chuẩn bị giao chiến với bọn Cô-dắc ở phía bắc Gát-si-na sáng mai. Nhất thiết phải đè bẹp chúng. Đề nghị ông thi hành các biện pháp cần thiết …
Một phút im lặng. Viên đại tá trở lại bản đồ và nói bằng giọng khác :
- Tốt lắm. Xtê-pan Gioóc-giê-vích, đề nghị …
Vừa cầm búi chì xanh gạch những con đường mới, ông ta vừa đọc lệnh cho một viên trung sĩ viết tốc kí. Rồi viên trung sĩ đi ra và mười phsut sau đêm vào bản chỉ thị đã đánh máy làm hai bản.
Viên chủ tịch uỷ ban cầm lấy một bản và nghiên cứu bản đồ :
- Được lắm.
Rồi nah ta đứng dậy, gấp bản sao cho vào túi. Còn tờ kia thì anh ta lý và lấy trong túi ra một con dấu đóng vào đó, rồi giao cho viên đại tá…
Bây giờ thì tôi lại thấy đúng là cách mạng rồi !...
Tôi quay trở lại cung điện xô-viết ở Xác-côi-ê bằng xe hơi của bộ tham mưu trung đoàn. Vẫn cái đám đông thợ thuyền, binh lính, thuỷ thủ ra vào, vẫn chật ních những xe vận tả, xe thiết giáp, đại bác ở trước cửa, và chỗ nào cũng tràn ngập vui mừng trước thắng lợi đã bao lâu mong chờ. Năm sáu xích vệ dẫn một thầy tu lách đám đông vào. Họ bảo đó là thầy tu I-văng ; trước đây, khi quân Cô-dắn tiến vào thành phố, y đã ban phước cho chúng. Tôi nghe nói sau đó thầy tu này bị xử bắn.
Đi-ben-cô bước ra, vừa đi vừa quay bên phải ngảnh bên trai ra lệnh. Tay anh ta cầm khẩu súng lục to tướng. Một chiếc xe hơi chờ nen hè, máy mở sẵn. Anh ta ngồi một mình vào ghế sau. Anh đi Gát-si-na để đánh bại Kê-ren-xki.
Chập tối, anh đến gần thành phố, rồi tiếp tục đi bộ. Không ai biết Đi-ben-cô nói gì với quân Cô-dắc, nhưng kết quả là tướng Cơ-rát-xnốp và bộ tham mưu, và cả vài gnhìn quân Cô-dắc nữa , ra hàng và khuyên Kê-ren-xki cũng ra hàng …
Còn về phần Kê-ren-xki thì tôi ghi lại dưới đây lời khai của tướng Cơ-rát-xnốp sáng ngày 14 tháng 11 :
Gát-si-na ngày 14-11-1917.
Hôm nay, lúc 3 giờ sáng, viên chỉ huy tối cao (Kê-ren-xki) cho gọi tôi đến. Ông ta coi bộ rất lo lắng và mất bình tĩnh. Ông ta nói :
- Ông đã phản tôi ! Quân Cô-dắc của ông nói là sẽ bắt tôi giao cho bọn thuỷ thủ.
- Vâng, đúng là người ta nói thế đó và tôi biết là chẳng ở đâu người ta ưa ông cả.
- Mà các sĩ quan cũng nói thế.
- Vâng, các sĩ quan đặc biệt bất bình đối với ông.
- Tôi làm thế nào bây giờ ? Chỉ còn nước tự tử.
- Nếu ông là một người lương thiện, ông hãy cầm cờ trắng ra hàng phục ngay Pê-tơ-rô-grát, và ông sẽ nhân danh là người đứng đầu chính phủ điều đình với Uỷ ban quân sự cách mạng.
- Được lắm, tôi sẽ làm như thế.
- Tôi sẽ cho một đội lính đi hộ vệ ông, và tôi sẽ đề nghị để một thuỷ thủ đi theo ông.
- Không, không, rất là không nên có thuỷ thủ nào cả. Ông biết là Đi-ben-cô hiện nay ở đây.
- Tôi không biết Đi-ben-cô là ai cả.
- Đó là kẻ thù của tôi.
- Thế đã sao. Ông đánh nước bạn to thì phải biết gánh lấy trách nhiệm.
- Đúng rồi. Đêm nay tôi sẽ đi.
- Sao lại thế ? Họ sẽ cho là ông bỏ trốn. Ông hãy bình tĩnh cà công khai ra đi để ai nấy đều thấy rằng ông không bỏ trốn.
- Được. Nhưng ông phải cho tôi một đội hộ vệ tin cẩn.
- Đồng ý.
Tôi đi ra, gọi anh Cô-dắc Rút-xa-nốp thuộc trung đoàn sông Đông số 10, và ra lệnh cho hắn chỉ định 8 nguwòi Cô-dắc để hộ vệ viên chỉ huy tối cao. Nửa giờ sau, lính Cô-dắc tìm tôi và nói là không thấy Kê-ren-xki đâu cả, hắn đã bỏ trốn. Tôi ra kệnh báo động và cho đi tìm hắn, cho là hắn không thể trốn khỏi Gát-si-na và đang ẩn náu đâu đây. Nhưng không sao tìm thấy.
Kê-ren-xki đã một thân một mình mặc giả thuỷ thủ lẩn trốn như vậy và còn tý chíut uy tín bào với quần chúng Nga thì cũng mất nốt …
Tôi trở về Pê-tơ-rô-grát ngồi trên ghế đằng trước của một chiếc xe vận tải do một côngnhân lái và chở đầy xích vệ. Vì chúng tôi không có dầu hoả nên đèn không thắp. Đuwòng xá chất ních quân đội vô sản kéo về nghỉ và quân đội dự bị kéo đi thay thế họ, Trong đêm tối, xuất hiện nào là xe vận tải, nào là hàng đoàn pháo binh, nào là xe ngựa,tất cả cũng đều không đèn đóm như chúng tôi. Mặc dầu vậy, chúng tôi phóng thục mạng, ngoặt phải ngoặt trái, tránh những húc nhau nhiều khi hầu như không sao tránh khỏi, va chạm vào bánh những xe khác, theo sau là tiếng chửi bới của những người đi bộ.
Ở chân trời, ánh sáng thủ đô lấp lánh, ban đêm đẹp hẳn lên gấp đôi, như một con đê bằng châu báu chắn ngang cánh đồng trơ trụi.
Người công nhân già một tay cầm lái, một tay vui sướng chỉ về phía thủ đô ngời sáng đằng xa ; bác ta phấn khởi kêu lên, mặt mày rạng rỡ :
- Mi là của ta rồi ! Pê-tơ-rô-grát của ta ơi, bây giờ mi là của ta rồi !
(Hết chương 9)
|