View Single Post
  #59  
Cũ 30-11-2007, 00:21
TuDinhHuong's Avatar
TuDinhHuong TuDinhHuong is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 109
Cảm ơn: 256
Được cảm ơn 280 lần trong 72 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới TuDinhHuong Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới TuDinhHuong
Default

Khoảng trưa, tôi đang ở trước Viện Xmôn-ni, nói chuyện với người lái một chiếc xe Hồng thập tự sắp ra mặt trận. Người lái xe đồng ý cho tôi đi theo. Anh ta là một chiến sĩ tình nguyện, trước đây là sinh viên đại học. Trong khi xe chạy, anh ta ngoái cổ nói với tôi bằng một thứ tiếng Đức rất dở : “ Also, gut ! Wir nach die Kasernen zu essen gehen”. Tôi đoán là anh ta định nói rằng chúng tôi sẽ ăn trưa ở một doanh trại nào đó.
Đến phố Ki-rốt-snai-a, chúng tôi rẽ vào một cái sân rộng mênh mông, xung quanh có trại quân. Lên một cái thang tối om, chúng tôi vào một căn phòng trần thấp, có mỗi một cửa sổ. Quanh một cái bàn gỗ dài, chừng hai chục người lính tay cầm thìa gỗ đang ăn xúp bắp cải đựng trong một cái nồi sắt tây lớn, vừa ăn vừa cười nói ran ran.
- Chào Uỷ ban tiểu đoàn công binh dự bị 61, anh lái xe chào lớn lên như vậy và giới thiệu tôi là một người xã hội Mỹ.
Mọi người đều đứng dậy bắt tay tôi : một người lính giá ôm tôi hôn rất thắm thiết. Họ đưa cho tôi một cái thìa gỗ, và tôi ngồi vào bàn. Người ta mang ra một cái nồi ka-sa đầy. một tảng bánh mì đen to tướng và những ấm chè, không thể thiếu trong bữa ăn được. Mọi người tranh nhau hỏi tôi về nước Mỹ. Phải chăng ở cái nước tự do ấy, người ta bán lá phiếu của mình lấy tiền ? Nếu thế thì làm sao mà đạt được những điều họ mong ước ? Thế còn Ta-ma-ni ?
Phải chăng ở cái nước tự do ấy, một nhóm người có thể thống trị cả một thành phố và bóc lột nó để phục vụ lợi ích riêng họ ? Tại sao nhân dân lại chịu để như vậy ? Ở nước Nga, ngay dưới thời Nga hoàng cũng không thể làm thế được ; đồng ý là có thối nát nhưng đâu đến nỗi có thể mua bán cả thành phố lớn ! Mua bán cả dân ở đấy nữa ! Mà trong một nước tự do ! Thế nhân dân không có một chút ý thức cách mạng nào chăng ?
Tôi cố giải thích rằng ở nước tôi, nhân dân cố gắng đòi cải cách bằng đường lối luật pháp. Một viên trung sĩ trẻ, tên là Ba-cơ-la-nốp, nói được tiếng Pháp, phát biểu :
- Được thôi nhưng giai cấp tư bản ở nước anh mạnh như thế thì chắc chúng kiểm soát cả luật pháp lẫn toà án : thế thì nhân dân làm thế nào mà đòi thi hành cải cách được ? Tôi sẵn sàng tiếp thu lời giải thích của anh vì tôi không biết rõ nước anh, nhưng dù sao tôi cũng thấy khó mà tin được…
Tôi nói là tôi đi Xác-côi-ê Xê-lô… Ba-cơ-la-nốp nói :
- Tôi cũng đi…
- Tôi cũng đi… Tôi cũng đi…
Thế là tất cả mọi người trong phòng đều quyết định đi Xác-côi-ê. Ngay lúc đó có tiếng gõ cửa. Cửa mở và viên đại tá hiện ra. Chẳng ai đứng dậy, nhưng có tiếng chào đón. Viên đại tá hỏi :
- Vào được không ?
- Được chứ, vào đây ! Mọi người vui vẻ trả lời.
Viên đại tá bước vào, dáng người dong dỏng, lịch sự, đội mũ da dê thêu chỉ vàng.
- Hình như các đồng chí vừa nói là định đi Xác-côi-ê Xê-lô ? Cho tôi đi theo với được không ?
Ba-cơ-la-nốp ngẫm nghĩ, rồi trả lời :
- Chắc hôm nay cũng chẳng có công việc gì ở đây. Được thôi, chúng tôi rất vui lòng để đồng chí đi với chúng tôi.
Viên đại tá cảm ơn và ngồi xuống rót một cốc nước chè uống.
Ba-cơ-la-nốp rỉ tait ôi, để khỏi chạm tự ái viên đại tá :
- Tôi là chủ tịch Uỷ ban ; quyền chỉ huy tiểu đoàn hoàn toàn là ở chúng tôi, chỉ trừ khi hành quân thì chúng tôi uỷ quyền cho viên đại tá. Lúc đó thì ai nấy đều tuân theo lệnh của anh ta, nhưng anh ta lại chịu trách nhiệm trước chúng tôi. Ở doanh trại nhất nhất việc gì anh ta cũng phải hỏi ý kiến chúng tôi… Anh ta đại khái là một chấp hành viên của chúng tôi.
Người ta phát cúng đạn cho chúng tôi, vì có thể gặp quân Cô-dắc, thế rồi mọi người chồng chất lên xe cùng với ba kiện báo to tướng cho mặt trận. Chúng tôi thẳng đuwòng qua đại lộ Li-tây-ni và đại lộ Da-gô-rốt-ni. Tôi ngồi cạnh một người trẻ tuổi đao cấp hiệu trung uý ; các thứ tiếng châu Âu, coi bộ anh ta đều thạo như nhau cả. Anh ta là uỷ viên trong Uỷ ban tiểu đoàn.
- Tôi không phải bôn-sê-vích, anh ta nhấn mạnh với tôi như thế. Gia đình tôi là dòng dõi quý tộc lâu đời. Tôi là… thôi cứ cho là một đản viên K.Đ. đi
Tôi ngạc nhiên hỏi : Thế thì làm sao mà…?
- Đúng đấy, tôi là uỷ viên trong Uỷ ban tiểu đoàn. Tôi chẳng giấu giếm gì chính kiến của tôi, nhưng các anh ấy mặc kệ, vì họ biết là tôi không chống lại ý kiến của đa số… Tôi đã từ chối không tham gia cuộc nội chiến này, vì tôi cho là cầm khí giới chống những người anh em Nga của tôi không có lợi ích gì.
- Đồ khiêu khích ! Đồ tay chân Coóc-ni-lốp! Mọi người vừa vỗ vai anh vừa cười đùa ầm ĩ.
Sau khi qua Khải hoàn môn ở cửa Mát-xcơ-va – một kiến trúc đồ sộ bằng đá xám, khắc chữ vàng, có những con đại bàng to tướng và tên những Nga hoàng – chúng tôi đi trên đường cái thẳng tắp, trắng xoá những tuyết mới rơi. Trên đường đầy xích vệ đi chân. Có người thì vừa ca hát vừa đi ra mặt trận. Có người thì từ mặt trận trở về, bê bết bùn đất và mặt mày mỏi mệt. Phần lớn đều trẻ măng. Có cả phụ nữ nữa, người mang cuốc xẻng, người mang súng đạn, người đeo băng Hồng thập tự. Họ đều là những người ở các xóm nghèo, cằn cỗi vì lao động nhiều. Những toám lính, chẳng cần đi đều bước nữa, cười đùa với xích vệ. Có cả những thuỷ thủ với bộ mặt nghiêm nghị, những trẻ em mang thức ăn cho bố mẹ, tất cả đều lội trong lớp bùn trăng trắng phủ mặt đường. Chúng tôi vượt qua đoàn pháo binh đang ầm ầm tiến về phía Nam. Xe vận tải đầy ắp người, súng ống tua tủa, thỉnh thoảng lại gặp nhau ; có cả xe chở thương binh từ mặt trận về ; chúng tôi trông thấy một chiếc xe ngựa lạch cạch đi tới, trên có một thanh niên bị thương ở bụng, ngồi gập người xuống, mặt tái mét và miệng rên rỉ. Trên cánh đồng hai bên đường, đàn bà và người già đang đào chiến hào và căng dây thép gai.
Từng đám mây bay về phương Bắc. Đột nhiên, mặt trời hiện ra, tái nhợt. Ở đầu đằng kia cánh đồng lầy, Pê-tơ-rô-gơ-rát lấp lánh : bên phải là những vòm mái hình củ hành và những đỉnh tháp nhọn, trắng, vàng, đủ mọi màu sắc ; bên trái là những ống khói cao, một vài cái nhả khói đen, và ở tít đằng cuối là một nền trời thấp úp lên đất Phần Lan. Hai bên đường, nhà thờ, tu viện lần lượt lướt qua. Thỉnh thoảng chúng tôi lại thấy một thầy tu đứng yên lặng như muốn bắt mạch quân đội của giai cấp vô sản.
Đến Pun-cô-vô đường chia nhiều ngả : chúng tôi dừng lại giữa một đám đông, chỗ ba dòng người gặp nhau. Bạn hữu vui vẻ gặp gỡ ở đây, ngợi khen nhau, tả cho nhau nghe chuyện chiến trận. Ở ngã ba, vài nhà còn mang vết đạn và mặt đất bị xé nát trên một đường bán kính một dặm, đã đánh nhau kịch liệt ở đây … Phía xa xa, những con ngựa Cô-dắc không người cưỡi chạy vòng quanh kiếm thức ăn, vì cỏ trên cánh đồng đã hết từ lâu. Ngay trước mặt chúng tôi, một anh xích vệ thủ leo lên cưỡi một con, nhưng lần nào cũng ngã, làm hàng ngàn những anh bạn của anh ta phá lên cười như trẻ con.
Con đường bên trái, theo đó bọn đại binh Cô-dắc đã rút lui, dẫn lên một cái dốc nhỏ tới thôn. Đứng trên đó nhìn thấy một cảnh vĩ đại : cánh đồng mênh mông như biể cả khi trời lặng gió, trên có mây chất thành đống ; thành phố cũ của Nga hoàng nhả ra hàng ngàn người trên khắp nẻo đường. đằng xa, phái bên trái là ngọn đồi nhỏ Cơ-rát-xnôi-ê Xê-lô, bãi diễn tập của doanh trại mùa hè của đội Cận vệ Nga hoàng và trại sữa bò của Hoàng gia. Không có cái gì làm mất vẻ đồng điệu của cánh đồng, chỉ trừ tu viện có tường vây quanh, vài xưởng máy lẻ loi và vài toà nhà to giữa đám đất hoang, trước kia là viện tế bần và nhà nuôi trẻ mồ côi. Trong khi chúng tôi đang leo một ngọn đồi trọc, anh lái xe nói :
- Vê-ra Xlút-xcai-a đã chết ở đây. Phải, chính bà đại biểu bôn-sê-vích ở Viện Đu-ma. Sáng sớm hôm ấy, bà ta đi xe hơi cùng với Dan-kin và một người nữa. Lúc đó hai bên đã tạm hoãn chiến, và họ đi ra mặt trận. Họ đang cười nói vui vẻ thì bỗng nhiên, từ đoàn xe lửa bọc sắt trong đó có Kê-ren-xki, một tên nào đó trông thấy xe hơi bèn bắn một phát, Vê-ra Xlút-xcai-a trúng đạn, chết ngay lập tức…
Chúng tôi tới Xác-côi-ê, nơi đang rộn rịp các vị anh hùng của quân đội vô sản. Lâu đài, nơi Xô-viết đóng, hoạt động tấp nập. Xích vệ và thuỷ thủ đóng ở sân, các cửa đều có vọng canh, liên lạc viên và uỷ viên cuồn cuộn ra vào. Trong phòng họp của các Xô-viết, quanh chiếc ấm xa-mô-va, chừng năm chục công nhân, binh lính, thuỷ thủ và sĩ quan đang bàn cãi sôi nổi và uống nước chè. Ở một góc, hai công nhân đang vụng về tập sử dụng một cái máy in rô-nê-ô. Ở bàn giữa, chàng Đi-ben-cô toa lớn đang cúi mình trên bản đồ và lấy bút chì xanh đỏ ghi những vị trí phải chiếm đóng. Bàn tay để rảnh vẫn nắm chặt khẩu súng lục to tướng, ánh thép xanh biếc. Bỗng nhiên, anh ngồi xuống trước một cái máy chữ và đánh mổ cò, thỉnh thoảng lại dừng lại cầm súng quay bầu đạn một cách thích thú.
Trên một cái giường kê dọc tường có một người thợ trẻ nằm. Hai người xích vệ đang săn sóc anh ta, nhưng ngoài học ra chẳng có ai để ý. Giữa ngực anh thợ có một lỗ thủng : mỗi khi tim đập máu lại trào ra, thấm qua cả áo. Mắt anh ta nhắm nghiền, khuôn mặt trẻ măng có râu rậm đã xanh nhợt. Anh hãy còn thở khò khè, nhắc đi nhắc lại trong hơi thở :
- Sắp hoà bình rồi ! Sắp hoà bình rồi !
Lúc chúng tôi bước vào, Đi-ben-cô ngước mắt lên. Anh ta bảo Ba-cơ-la-nốp.
- A, đồng chí, đồng chí hãy đến văn phòng viên chỉ huy và nhận quyền chỉ huy. CHờ một tí, để tôi làm cho đồng chí một cái quân lệnh.
Anh ta đi ra phía máy chữ và lại mổ cò từng chữ một, vừa đánh vừa dò chữ.
Tôi đến lâu đài Ê-ca-tơ-ri-na cùng với Ba-cơ-la-nốp, viên chỉ huy mới, coi bộ sôi nổi và quan trọng. Trong căn phòng sơn trắng lịch sự mà trước đây tôi đã đến, vài anh xích vệ đang tò mò lục soát. Viên đại tá, ông bạn cũ của tôi trước đây, đang đứng cạnh cửa sổ, nhấm nhấm râu mép ; trông thấy tôi, ông ấy mừng như gặp anh em ruột. Anh chàng người Pháp ở Bét-xa-ra-bi thì ngồi ở một cái bàn cạnh cửa ra vào. Các người bôn-sê-vích đã ra lệnh cho anh ta cứ ở lại làm việc như thường. Anh ta thì thầm với tôi :
- Làm thế nào được ? Những người như tôi không thể nào đứng về một bên nào trong cuộc chiến tranh như thế này, mặc dầu bản năng chúng tôi rất ghét nền độc tài của quần chúng … Tôi chỉ tiếc là phải xa mẹ tôi và xứ Bét-xa-ra-bi.
Viên đại tá phải chính thức giao quyền chỉ huy cho Ba-cơ-la-nốp. Ông ta nsi, vẻ bực dọc :
- Đây, chìa khoá bàn giấy.
Một người xích vệ xấn xổ ngắt lời :
- Tiền đâu ?
Viên đại ta hỏi vẻ ngạc nhiên :
-Tiền nào ? À, anh định nói két bạc ấy à ? Đây, két đây, ý như lúc tôi nhận quyền chỉ huy cách đây ba ngày. Chìa khoá ấy à ? – ông ta nhún vai – tôi không giữ chìa khoá.
Anh xích vệ cười khẩy :
- Ăn với nói tiện việc nhỉ ?
Ba-cơ-la-nốp nói :
- Chúng ta sẽ mở két. Đi tìm một cái rìu lại đây. Đồng chí Mỹ có mặt đây sẽ tự tay phá cái nắp và ghi lại ở trong két có gì.
Tôi giơ cao rìu … Cái két rỗng không.
Anh xích vệ cáu lắm :
- Phải tóm cổ thằng cha này lại. Đúng là tay sai Kê-ren-xki. Nó đã ăn cắp tiền và giao cho thằng Kê-ren-xki rồi.
Nhưng Ba-cơ-la-nốp không đồng ý. Anh nói :
- Không, không phải đâu. Thằng ăn cắp là thằng tay chân Coóc-ni-lốp ở đây trước hắn. Hắn không có tội.
Anh xích vệ cãi lại :
- Nhưng mà tôi thì tôi bảo anh rằng thằng này là bè lũ Kê-ren-xki. Nếu anh không muốn bắt, chúng tôi sẽ tóm cổ nó lại và đưa nó đi pháo đài Pi-tơ Pôn. Nó thì phải cho vào ở trng ấy mới đúng.
Những anh xích vệ khác tỏ vẻ đồng ý, và thế là viên đại tá bị dẫn đi, chân bước đi, mắt nhìn về phía chúng tôi một cách thảm hại…


Trước cung điện Xô-viết, một chiếc xe hơi vận tải sắp đi ra mặt trận. Chừng nửa tá xích vệ, dăm anh thuỷ thủ, một hai người lính, do một anh công nhân to như hộ pháp chỉ huy, troè lên xe và réo tôi bảo đi cùng. Một nhóm xích vệ từ bộ tổng chỉ huy đi ra, tay ôm những quả bom nhỏ nhồi gơ-ru-bít, một chất nổ mạnh gấp mười lần và nhạy gấp năm lần đi-na-mít, họ bảo thế. Họ quẳng bom lên xe, rồi sau đó lại lấy thừng và dây thép buộc thêm đằng sau xe một khẩu pháo 75 nạp đạn sẵn.
Giữa tiếng reo hò, xe mở hết tốc lực. Chiếc xe nặng nề hết nghiêng sang phải lại ngả sang trái, khẩu pháo như nhẩy cẫng lên, và những quả bom nhồi gơ-ru-bít lăn lông lốc dưới chân chúng tôi, va ầm ầm vào thành xe.
Anh xích vệ hộ pháp, tên là Vơ-la-đi-mia Ni-cô-lai-ê-vích luôn miệng hỏi tôi về nước Mỹ. Tại sao nước Mỹ lại tham gia chiến tranh ? Công nhân Mỹ đã sẵn sàng để lật đổ bọn tư sản chưa ? Tình hình vụ xử Mu-ni ra sao ? Liệu chúng có đem Béc-man đi Xăng Phơ-răng-xít-cô không ?
Và nhiều câu hỏi tương tự, rất khó trả lời, phải gào lên để lấp tiếng xe chạy, trong lúc chúng tôi phải víu vào nhau cho khỏi ngã giữa những quả bom lăn lông lốc.
Thỉnh thoảng lại có một đội tuần tra định bắt chúng tôi dừng lại. Lính đứng ra giữa đường, giơ súng hô : “Đứng lại !”. Nhưng chúng tôi không thèm để ý. Đám xích vệ trả lời đội tuần tra :
- Thôi cút đi ! Chẳng ai bắt chúng tôi dừng lại được cả. Chúng tôi là xích vệ.
Thế là chúng tôi cứ việc thẳng tiến, trong lúc đó Vơ-la-đi-mia Ni-cô-lai-ê-vích thét vào tai tôi một ý kiến nào đó về vấn đề quốc tế hoá kênh đào Pa-na-ma hoặc một vấn đề gì tương tự…
Cách Xác-côi-ê khoảng tám cây số thì gặp một đoàn thuỷ thủ đi về. Chúng tôi dừng lại.
- Mặt trận ở đâu, các người anh em ?
Anh thuỷ thủ đi đầu đứng lại, gãi đầu :
- Sáng nay thì nó ở cách đây khoảng năm trăm thước. Còn giờ thì của khỉ ấy nó ở đâu chẳng biết nữa. Chúng tôi đi hết hơi mà chẳng thấy nó đâu cả.
Toán thuỷ thủ trèo lên xe với chúng tôi và xe lại chạy. Khoảng một dặm đường thì Vơ-la-đi-mia Ni-cô-lai-ê-vích dỏng tai nghe và kêu anh lái xe dừng lại.
- Có tiếng súng ! Các anh có nghe thấy không ?
Im phăng phắc trong một lát. Thế rồi, ở phía trước về bên trái, ba tiếng súng lần lượt nổ vang. Hia bên đường có cây rậm. Chúng tôi vừa từ từ tiến lên, vừa thì thào trao đổi ý kiến. Đến quãng có tiếng súng nổ, chúng tôi nhảy xuống đất rồi rón rén tiến vào rừng.
Trong khi đó, hai đồng chí tháo khẩu pháo ra khỏi xe và đặt nó vào vị trí bắn : lẽ tất nhiên là các ông tướng ấy chĩa ngay lòng súng vào lưng chúng tôi.
Trong rừng im phăng phắc. Lá đã rụng hết, và dưới ánh mặt trời yếu ớt và chênh chếch của mùa thu, những thân cây trong nhợt nhạt. Chẳng thấy động tĩnh gì, chỉ lạo xạo tiếng băng ở những vũng nước nhỏ, nứt dưới bước đi của chúng tôi. Phục kích chăng ?
Trả lời kèm theo trích dẫn