Lúc chúng tôi rời Uỷ ban quân sự cách mạng thì An-tô-nốp bước vào, nhợt nhạt như xác chết. Anh ta nói: "Gửi ngay lệnh này đi!".
Lệnh gửi tất cả các Xô-viết khu các đại biểu
công nhân và tất cả các uỷ ban xí nghiệp.
Các toán quân coóc-lô-vít của tên Kê-ren-xki đang đe doạ các vùng lân cận thủ đô. Đã có những lệnh cần thiết để đập tan âm mưu phản cách mạng này của bọn chúng nhằm chống lại nhân dân và những thành quả cách mạng của nhân dân.
Quân đội và các đội xích vệ rất cần được ngay sự ủng hộ của công nhân.
Chúng tôi ra lệnh cho các Xô-viết khu vực và các Uỷ ban xí nghiệp:
1. Gửi ngay số công nhân tối đa có thể được để đào chiến hào, dựng chướng ngại vật và chăng dây thép gai.
2. Nếu cần, ngừng ngay công việc ở các xưởng máy.
3. Tập hợp tất cả số dây thép thường hoặc dây thép gai có thể có và tất cả các dụng cụ cần thiết để đào chiến hào và dựng chướng ngại vật.
4. Trang bị bằng tất cả các khí giới có thể có.
5. Giữ vững kỷ luật, chặt chẽ nhất và sẵn sàng ủng hộ quân đội cách mạng bằng mọi phương tiện.
Chủ tịch Xô-viết các đại biểu công nhân và binh lính
Uỷ viên nhân dân
Lê-ông Tơ-rốt-xki
Chủ tịch Uỷ ban quân sự cách mạng
Tư lệnh Quân khu
N. Pốt-vôi-xki
Khi chúng tôi ra đến ngoài, trong cảnh tranh tối tranh sáng của cái ngày buồn tẻ và âm u này, chúng tôi nghe thấy từ bốn phương trời vang lên tiếng còi nhà máy. Tiếng còi thét vang và giật giọng, chứa đầy triệu chứng chẳng lành. Hàng vạn công nhân nam và nữ đổ xuống đường; những xóm nhà tiều tuỵ nhả ra hàng vạn người mặt mũi xanh xao đói khổ. Thành phố Đỏ lâm nguy! Quân Cô-dắc đến! Làn sóng người tràn về phí Nam và phía Tây Nam, qua những phố cũ ký dẫn đến cửa Mát-xcơ-va. Nào đàn ông, đàn bà, trẻ con vác súng, xẻng, cuốc và những cuộn dây thép, bao đạn thắt ngay vào áo quần làm việc... Chưa bao giờ người ta được thấy một thành phố khổng lồ tự động kéo nhau đi như thế. Dòng người đổ đi như thác, cuốn theo hàng đại đội binh lính, súng đại bác, xe hơi, xe ngựa; vô sản cách mạng đem ngực mình ra bảo vệ thủ đô nước Cộng hoà công nông!
Một chiếc xe hơi đỗ trước cửa viện Xmon-ni. Một người mảnh khảnh, đeo cặp kính dày làm đôi mắt viền đỏ lại càng thêm to, đứng dựa vào một bên cái chắn bùn, hai tay đút túi chiếc áo khoác ngoài đã sờn. Ông ta nói có vẻ mệt nhọc. Gần đó một người thuỷ thủ cao lớn rậm râu, mắt trong sáng, vẻ nhìn đầy nhuệ khí thanh niên, đi lại một cách nóng nảy, vừa đi vừa nghịch một khẩu súng lục to tướng, ánh thép xanh biếc, không lúc nào rời tay anh ta. Đó là An-tô-nốp và Đi-ben-cô.
Mấy người lính đang buộc hai chiếc xe đạp quân dụng lên bệ xe. Người lái xe nhất định không chịu. Hỏng mất sơn còn gì! Đã đành anh ta là Bôn-sê-vích và anh biết rõ là xe hơi thì trưng dụng của một tên tư bản, còn xe đạp thì để cho các liên lạc viên dùng! Nhưng lòng tự kiêu nhà nghề của người lái xe khiến anh phản đối! Sau cùng, người ta đành phải để hai chiếc xe đạp lại...
Hai uỷ viên bộ Chiến tranh và bộ Hải quân sắp ra kiểm tra mặt trận cách mạng. Chúng tôi muốn đi theo có được không? Không được, chỉ có năm chỗ ngồi: hai uỷ viên, hai người tuỳ tòng và người lái xe. Mặc dầu vậy, một người bạn Nga của tôi mà tôi tạm gọi là anh Tơ-ru-xich-ca cứ nhất định ngồi vào xe, nói làm sao cũng không bẩy anh ta ra khỏi được...
Tôi không có lý do gì để không tin câu chuyện mà sau đó anh Tơ-ru-xích-ca kể cho tôi nghe về cuộc đi ngày hôm ấy. Lúc qua đại lộ Xu-va-rốp-xki, một người trên xe nêu vấn đề lương ăn. Có thể sẽ phải đi tới ba, bốn ngày trong một vùng lương thực khan hiếm. Xe đỗ lại. Nhưng còn tiền? Uỷ viên bộ Chiến tranh lục túi: chẳng có một xu. Uỷ viên bộ Hải quân cũng vậy, và anh lái xe cũng thế. Rốt cục là Tơ-ru-xích-ca bỏ tiền ra mua thức ăn.
Đến chỗ ngoặt của đại hộ Nép-xki thì nổ lốp. An-tô-nốp hỏi: "Làm thế nào bây giờ?". Đi-ben-cô giơ khẩu súng ra nói: "Trưng dụng một chiếc xe khác". An-tô-nốp dứng ra giữa phố và hãm một chiếc xe do một người lính lái. Anh nói: "Tôi cần chiếc xe của anh". Người lính trả lời: "Anh không lấy được".
- Anh có biết tôi là ai không?
An-tô-nốp chìa ra một tờ giấy chứng nhận rằng anh đã được cử làm tổng chỉ huy quân đội nước Cộng hoà Nga, và như vậy thì ai nấy đều phải tuân lệnh.
Người lính to tiếng cãi lại:
- Anh có là Diêm vương đi chăng nữa cũng chẳng lấy nổi xe này. Đây là xe của trung đoàn súng máy số 1 và đang chở đạn dược...
May là lúc ấy có một chiếc xe tắc-xi cũ ký, mang cờ Ý vừa đi đến (trong những thời kỳ loạn lạc, các chủ xe hơi tư thường đăng ký xe nhân danh các lãnh sự quán ngoại quốc để tránh khỏi bị trưng dụng). Khó khăn được giải quyết bằng cách tống cổ anh chàng to béo mặc áo lông sang trọng ngồi trong tắc-xi đó ra, và thế là phái đoàn lại tiếp tục đi.
Đến chỗ chắn ở Nác-va cách Xmon-ni khoảng mười dặm, An-tô-nốp đòi gặp viên chỉ huy xích vệ. Họ đưa anh đến cuối thành phố, tới một chỗ có chừng vài trăm công nhân đang đào chiến hào và đợi giao chiến với bọn Cô-dắc, An-tô-nốp hỏi:
- Thế nào, mọi việc tốt chứ, đồng chí?
Viên chỉ huy trả lời:
- Mọi việc đều rất tốt. Tinh thần anh em rất cao... Nhưng... có một điều là chúng tôi không có đạn...
An-tô-nốp nói: "Có hai nghìn triệu viên ở Xmon-ni. Để tôi ký cho anh cái giấy" và lục lọi tìm trong túi: "Có ai có mảnh giấy nào không?".
Đi-ben-cô không có giấy, các liên lạc viên cũng không. Tơ-ru-xích-ca chìa ra quyển sổ tay... Nhưng An-tô-nốp lại kêu: "Chết cha! Không có bút chì. Có ai có bút chì không?".
Tất nhiên là trong cả bọn, chỉ có Tơ-ru-xích-ca có bút...
* *
*
Bị bỏ lại, chúng tôi tìm cách đến ga Xác-côi-ê Xê-lô. Đi ngược đại lộ Nép-xki, chúng tôi thấy các đội xích vệ vũ trang, có người súng có lưỡi lê, có người không có. Hoàng hôn mùa đông xuống nhanh chóng. Đầu ngẩng cao, xếp hàng tư cũng không được đều lắm, họ bước đi trong bùn giá lạnh, không kèn không trống. Trên đầu họ, phấp phới một lá cờ đỏ, có mấy dòng chữ vàng nguệch ngoạc: "Hoà bình! Ruộng đất!". Họ đều rất trẻ. Mặt họ rõ là vẻ mặt của những người biết mình sắp phải hi sinh... Những kẻ đứng trên vỉa hè, với vẻ mặt vừa sợ sệt, vừa dè bỉu, căm hờn lặng lẽ nhìn họ đi qua.
Tại nhà ga, không ai biết Kê-ren-xki đang ở đâu và mặt trận ở đâu. Tàu không chạy quá Xác-côi-ê Xê-lô... Toa chúng tôi đầy những nông dân trở về quê, tay xách nách mang, nào hành lý, nào các báo buổi chiều. Chỉ thấy nói chuyện về cuộc cách mạng Bôn-sê-vích, nhưng ngoài ra thì khó mà biết rằng, nước Nga to lớn đang bị cuộc nội chiến cắt làm hai và đoàn tàu của chúng tôi đang đi về phía có chiến sự. Qua cửa sổ, chúng tôi nhìn thấy trong bóng tối mỗi lúc một dày đặc, những đám binh lính đang tiến về thành phố trên đường bùn lầy, vung tay vung chân tranh luận sôi nổi. Một đoàn tàu hàng, đầy ắp những lính, ánh lửa chiếu vào sáng rực, đang đỗ trên một khúc đường dồn tàu. Chỉ có thế. Sau lưng chúng tôi, phía chân trời, ánh đèn của thủ đô mờ dần trong đêm tối. Một chuyến tàu điện ì ạch đi về một chốn ngoại ô xa xăm.
Nhà ga ở Xác-côi-ê Xê-lô yên tĩnh, nhưng đây đó từng tốp binh lính thì thầm và nhìn một cách lo ngại về phía con đường sắt vắng ngắt đi về Gát-xi-na. Tôi hỏi họ thuộc đảng phái nào. Một người trả lời: "Chúng tôi chưa biết sự thực thế nào... Đúng rồi, Kê-ren-xki là một tên khiêu khích, nhưng chúng tôi cho việc người Nga lại bắn vào người Nga là không phải".
Ngồi ở văn phòng của uỷ viên nhà ga là một người lính trơn, to béo, vui tính và rậm râu, tay đeo băng đỏ của một uỷ ban trung đoàn. Giấy tờ của chúng tôi do Xmon-ni cấp có ngay hiệu quả đối với anh ta. Rõ ràng anh ta ủng hộ các Xô-viết, nhưng lại rất hoang mang. Anh bảo chúng tôi:
- Cách đây hai giờ, các đội xích vệ còn ở đây, nhưng họ lại đi rồi. Sáng nay, có một uỷ viên tới, nhưng khi bọn Cô-dắc đến thì ông ta lại quay trở về Pê-tơ-rô-gơ-rát.
Chúng tôi hỏi:
- Bọn Cô-dắc đến đây à?
Anh lính gật đầu buồn bã:
- Đã đánh nhau một trận. Bọn Cô-dắc đến đây lúc sáng sớm. Chúng bắt hai ba trăm người của chúng tôi làm tù binh và giết mất khoảng hai mươi nhăm người.
- Bọn Cô-dắc bây giờ ở đâu?
- Có lẽ chúng cũng chẳng đi xa đâu. Không biết đích xác giờ chúng ở đâu. Chúng đi về phía này... Anh ta vừa nói vừa chỉ về phía Tây.
Chúng tôi ăn một bữa thật ngon ở quán ăn nhà ga, vừa ngon vừa rẻ hơn ở Pê-tơ-rô-gơ-rát. Ngồi cạnh chúng tôi có một sĩ quan Pháp, vừa đi bộ từ Gát-si-na đến. Hắn ta bảo ở đó yên tĩnh lắm. Kê-ren-xki đóng chắc ở thành phố ấy.
Anh ta lại nói tiếp: "Dân Nga này lạ thật! Thật là một cuộc nội chiến lạ lùng! Đủ hết mọi trò trừ có đánh nhau!".
Chúng tôi đi vào thành phố. Ở cửa ga có hai người lính đứng, súng lắp lưỡi lê, đang bị chừng một trăm thương gia, công chức và sinh viên vây quanh chửi rủa. Hai người lính coi bộ ngượng ngập và sượng sùng như hai đứa trẻ bị mắng oan. Đứng đầu cuộc tấn công là một thanh niên cao lớn, mặc đồng phục sinh viên, mặt mũi kiêu căng. Y nói bằng một giọng láo xược: "Chắc các anh hiểu là khi các anh cầm súng đánh lại anh em trong nhà tức là các anh làm tay sai cho bọn sát nhân và bọn phản bội".
Anh lính nghiêm trang đáp:
- Không phải thế, người anh em ơi, anh không hiểu. Có hai giai cấp, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Chúng tôi...
Tên sinh viên ngắt lời: "Biết rồi, nhàm tai lắm rồi! Bọn nhà quê ngu dốt các anh chỉ cần nghe thấy vài công thức là lắp lại như vẹt chẳng cần hiểu gì cả". Đám đông phá lên cười. Y nói tiếp: "Tôi là một sinh viên mác-xít. Tôi nói cho anh biết là không phải các anh chiến đấu cho chủ nghĩa xã hội đâu, làm cho sự hỗn loạn, có lợi cho bọn Đức!".
Mặt người lính mồ hôi nhỏ giọt. Anh trả lời: "Tôi biết anh là một người học thức. Cái đó rõ ràng rồi. Còn tôi, tôi chỉ là một người bình thường. Nhưng theo tôi...".
Tên sinh viên ngắt lời với vẻ mặt khinh bỉ: "Chắc anh cho Lê-nin là bạn của vô sản?".
Người lính trả lời với vẻ mặt đau khổ: "Đúng, tôi nghĩ như vậy".
- Này anh ơi, anh có biết Lê-nin đã đi qua nước Đức trong một toa xe hoả niêm phong không? Anh có biết Lê-nin đã nhận tiền của Đức không?
Người lính khăng khăng trả lời:
- Tôi không biết rõ những cái ấy lắm, nhưng tôi thấy rằng điều gì ông ấy nói cũng đều đúng là những điều mà tôi và các người bình thường khác muốn được nghe. Anh thấy không, có hai giai cấp: vô sản và tư sản...
- Anh điên à, anh bạn! Tôi đã ở tù hai năm ở Sơ-lút-xen-bua vì hoạt động cách mạng. Khi đó thì các anh bắn vào các người cách mạng và hát "Cầu chúa bảo vệ cho Nga hoàng". Tên tôi là Vát-xi-li Gioóc-giơ-vich Pa-nin. Anh có nghe thấy tên tôi bao giờ không?
Anh lính kính cẩn trả lời:
- Rất tiếc là tôi không biết. Nhưng tôi chỉ là một kẻ dốt nát. Chắc anh là một vị đại anh hùng.
Tên sinh viên trả lời chắc chắn như đinh đóng cột:
- Hẳn đi chứ. Và tôi chiến đấu chống bọn Bôn-sê-vích đang phá hoại nước Nga của chúng ta và cuộc cách mạng cho tự do của chúng ta. Thế thì anh cắt nghĩa việc đó ra làm sao?
Anh lính gãi đầu:
- Tôi không biết cắt nghĩa ra sao cả.
Anh ta nhăn mặt nhăn mũi có vẻ suy nghĩ gay lắm:
- Đối với tôi thì mọi việc rõ lắm. Đúng rồi, tôi là một kẻ ít học thức. Nhưng tôi thấy chỉ có hai giai cấp: vô sản và tư sản...
Tên sinh viên kêu lên:
- Đấy, anh lại trở về cái công thức ngu xuẩn...
Anh lính cứ một mực tiếp tục:
- Chỉ có hai giai cấp, và kẻ nào không đi với giai cấp nọ thì đi với giai cấp kia...
Chúng tôi ngược phố đi lên. Đèn vừa ít, vừa cách xa, và người qua lại cũng thưa thớt. Một sự yên lặng đầy đe doạ bao trùm thành phố. Người ta cảm thấy như ở một nơi rửa tội, giữa âm phủ và thiên đường, một khu phi chiến địa chính trị. Chỉ các hiệu cắt tóc là đèn sáng choang và đầy ắp những người. Người ta xếp hàng trước các hiệu tắm; hôm đó là ngày thứ bảy, ngày mà khắp nước Nga tắm rửa và xức nước hoa. Tôi tin chắc rằng ở những nơi đang tiến hành những nghi thức đó, có lẫn lộn cả bộ đội Xô-viết và Cô-dắc.
|