Nửa đêm. Chúng tôi bịa ra chuyện này chuyện khác và đi lọt trạm gác ở cổng pháo đài; dưới ánh điện lờ mờ và thưa thớt, chúng tôi men theo nhà thờ trong đó có những ngai mộ của các nhà vua, đi dưới mũi tên vàng và chiếc đồng hồ chuông tháng này qua tháng khác vẫn tiếp tục đánh bài “Cầu Chúa phù hộ cho Nga hoàng chúng tôi” vào lúc trưa… Quang cảnh vắng tanh; hầu hết các cửa sổ không có ánh đèn. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại va vào một người đi chập choạng trong đêm tối, và mỗi khi chúng tôi hỏi thì lại được nghe câu trả lời: “Tôi không biết”
Bên trái chúng tôi sừng sững một khối đen sì, đó là pháo đài Tơ-ru-het-xcôi, ngôi nhà mồ ở đó biết bao nhiêu chiến sĩ tự do đã bỏ mạng, hoặc đã phát điên dưới thời Nga hoàng; cũng ở đó, trước đây Chính phủ lâm thời đã giam cầm các bộ trường của Nga hoàng, và tới nay thì những người bôn-sê-vích lại giam cầm các bộ trưởng của Chính phủ lâm thời.
Một thuỷ thủ coi bộ dễ tính đưa chúng tôi tới phòng giấy của viên chỉ huy ở trong một gian nhà nhỏ gần Nhà đúc tiền. Trong một gian phòng ấm cúng và khói um có dăm sáu anh vừa xích vệ, vừa binh lính, vừa thuỷ thủ, ngồi chơi; hơi trong chiếc xa-mô-va (Ấm nước trà, thường bằng đồng hay bằng bạc – N.D.) bốc lên làm gian phòng thêm vui. Họ tiếp đón chúng tôi rất niềm nở, và mời chúng tôi uống trà. Họ cho hay rằng viên chỉ huy đi vắng vì đang phải đi theo một uỷ ban gồm những tên “phá hoại” của Viện Đu-ma thành phố; bọn này cứ khăng khăng là tất cả các học sinh sĩ quan đang bị thủ tiêu. Điều đó đối với họ như chuyện khôi hài. Một người nhỏ bé, đầu hói, trông có vẻ tay ăn chơi, ngồi ở một mé gian phòng. Y mặc một chiếc áo đuôi tôm, ngoài khoác một cái áo bằng lông đắt tiền, vừa nhấm nhấm bộ râu, vừa nhìn xung quanh như một con chuột bị đuổi bắt. Y vừa bị tóm. Một xích vệ nhìn y một cách lơ đãng và cho hay rằng y giữ một chức vụ bộ trưởng hay gì gì đó… Anh chàng nhỏ bé đó hình như không nghe thấy gì hết, vẻ sợ hãi lộ ra trên nét mặt, tuy rằng những người ngồi trong phòng không tỏ vẻ thù hằn gì đối với y.
Tôi tiến lại gần và hỏi y bằng tiếng Pháp. y trịnh trọng nghiêng mình và đáp lại:
- Tôi là bá tước Tôn-xtôi. Tôi không hiểu tại sao lại bị bắt. Tôi đang đi qua cầu Tơ-rô-ít-xki để về nhà thì hai người trong bọn… các người này đã giữ tôi lại. Trước đây, tôi có làm uỷ viên Chính phủ lâm thời tại bộ Tổng tham mưu, nhưng tôi không hề có chân trong chính phủ.
Một người lính thuỷ nói:
- Thôi thả hắn ra. Hắn chẳng làm gì hại đâu.
Người lính đã giải hắn đáp:
- Không được, phải hỏi chỉ huy cái đã.
Người lính thuỷ cười khẩy nói:
- Ôi dào! Hỏi chỉ huy! Thế anh làm cách mạng để làm gì? Để lại vẫn phải theo lệnh các sĩ quan à?
Một viên chuẩn uý của trung đoàn Páp-lốp-xki kể lại cho chúng tôi nghe cuộc khởi nghĩa nổ ra như thế nào:
- Đêm mồng 6, trung đoàn tôi thường trực tại bộ Tổng tham mưu. Tôi và một vài đồng chí gác. I-van Páp-lô-vích và một đồng chí – tôi quên mất tên - đứng nấp sau màn che cửa sổ phòng họp của bộ Tổng tham mưu. Họ nghe lỏm được khối chuyện, chẳng hạn chuyện bộ tham mưu ra lệnh điều các học sinh sĩ quan ở Gát-si-na tới Pê-tơ-rô-gơ-rát trong đêm hôm đó, ra lệnh cho bọn Cô-dắc chuẩn bị sẵn sàng để sáng hôm sau tiến quân, ra lệnh phải chiếm các địa điểm chính trong thành phố trước lúc sáng trời. Rồi lại còn vấn đề mở các cầu. Khi họ nghe thấy bộ tham mưu bàn tới việc bao vây Xmon-ni thì I-van Páp-lô-vích không thể đứng yên nghe được nữa. Lợi dụng lúc đó có nhiều người qua lại, anh ta lẻn ra khỏi chỗ nấp và xuống buồng gác, còn đồng chí kia thì vẫn ở lại để nghe.
“Tôi bắt đầu nghi ngờ có âm mưu gì đây. Chốc chốc lại có những chuyến xe ô tô chở đầy sĩ quan tới và tất cả các bộ trưởng đều có mặt. I-van Páp-lô-vích kể lại với tôi những điều anh ta nghe lỏm được. Lúc đó là hai giờ rưỡi sáng. Đồng chí bí thư Uỷ ban trung đoàn có mặt tại đó. Chúng tôi bèn thuật lại cho đồng chí nghe và hỏi xem phải làm gì. Đồng chí đó bảo: “Ai ra vào bắt tất!”. Chúng tôi đã chấp hành lệnh đó. Trong một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã bắt được một số sĩ quan, hai bộ trưởng và đưa chúng thẳng tới Xmon-ni. Nhưng Uỷ ban quân sự cách mạng chưa sẵn sàng và không biết làm gì, rồi sau đó, chúng tôi được lệnh để mặc cho bọn chúng đi lại tự do, không bắt một ai nữa. Chúng tôi bèn ba chân bốn cẳng chạy tới Xmon-ni và phải mất đến một tiếng đồng hồ mới làm cho các đồng chí ở đấy hiểu được rằng tình hình như vậy tức là chiến tranh. Chúng tôi trở về bộ tham mưu vào lúc năm giờ sáng; hầu hết bọn chúng đã cút rồi. Tuy vậy cũng tóm được vài tên, và quân đội thường trú cũng đã sẵn sàng chiến đấu…”
Một anh xích vệ ở đảo Vát-xi-li vừa cười vừa thuật lại rất tỉ mỉ sự việc xảy ra ở quận của anh ta trong ngày khởi nghĩa vĩ đại:
- Chúng tôi không có súng máy và cũng không có cách nào xin Xmon-ni được. đồng chí Đan-kin, uỷ viên Đu-ma khu, sực nhớ ra rằng trong phòng họp của toà thị chính có một khẩu súng máy bắt được của bọn Đức. Thế là đồng chí đó, tôi và một đồng chí nữa vội vàng đến lấy. Tại đó, bọn men-sê-vích và xã hội cách mạng đang họp. Chúng tôi đẩy cửa xông vào. Chúng có chừng mười lăm tên ngồi quanh bàn, còn chúng tôi chỉ có ba người. Khi thấy chúng tôi, bọn đó ngừng bặt và nhìn chúng tôi chằm chằm. Chúng tôi cứ đi thẳng tới chỗ để súng và tháo súng ra. Đồng chí Đan-kin vác một bộ phận, còn bao nhiêu là phần tôi, rồi chúng tôi cứ thế đi ra chẳng ai nói với ai một câu.
|