
Một khẩu đại bác của hàng phòng thủ Sevastopol. KHẩu pháo này còn lưu lại cho đến ngày nay để tưởng nhớ đến những trận dánh vẻ vang của hàng phòng thủ
Những trận tấn công mở đầu của quân đội Nga đã tỏ không hoàn toàn tốt đẹp. Thậm chí các sĩ quan chỉ huy hầu như không có một tấm bản đồ của khu vực và sơ đồ hành binh. Các phương hướng chỉ huy binh sĩ của tổng chỉ huy Menshikov và sĩ quan quân đoàn Dannenberg là chưa thỏa đáng và còn thiếu khả năng lãnh đạo. Sau khi đã nện cho kẻ thù được vũ trang hùng hậu hơn bị tan tác trong một trận đánh kéo dài suốt 7 giờ đồng hồ, nhất là quân Anh bị tổn thất khá nặng nề, quân đội Nga cũng đã phải rút về vị trí đóng quân ban đầu.
Sau khi tiến vào hải cảng Inkerman, hai chiếc tàu khu trục hơi nước nhỏ Vladimir và Khersones, đã nện một trận tơi bời cho quân địch đang kéo nhau săn đuổi các trung đoàn Nga, nhưng sau đó họ cũng đã rút lui an toàn. Trận đánh Inkerman, đã chứng minh được lòng dũng cảm, gan dạ và vững vàng của quân đội Nga
Kết quả của trận đánh Inkerman là chưa từng có trong lịch sử hải quân Nga; quân đội Nga tiến hành các cuộc tấn công, rồi thất bại vì không đạt được mục tiêu đề ra.
Địch có dự định dội bão lửa vào Sevastopol, trước khi mùa đông đến, nhưng kế hoạch của chúng bị phá sản. Tuy liên quân địch đã có sự chuẩn bị chu đáo cho chiến dịch mùa đông, nhưng chúng đã vội vàng tổ chức tấn công ngay lập tức vào Sevastopol
Cho đến cuối tháng 11, thời tiết trở nên tồi tệ và mưa tuôn xối xả. Các điều kiện thời tiết đã làm cho dịch bệnh bùng phát, và số người tử vong tăng lên nhanh chóng. Trong điều kiện thời tiết quá khắc nghiệt cho phía bên liên quân địch, điều này đã làm cho rất nhiều binh lính của chúng phải đào ngũ hoặc trở thành hàng binh – trong những ngày mùa đông lạnh giá đắng cay đó, mỗi ngày có đến hơn 30 lính liên quân bỏ sang đầu hàng quân đội Nga.
Trong tháng 11 và tháng 12 năm 1854, quân đội Anh đã hoàn toàn nản chí. Tuy nhiên, tổng chỉ huy quân đội Nga – Menshikov vẫn không thể nắm giữ được những lợi thế đó, và không hề tổ chức được bất kỳ một trận đánh đáng gờm nào cho đến tận tháng hai năm sau. Bên quân địch, chúng đang đợi mùa xuân sang và quân tiếp viện sẽ đến.
Về phía quân đội Nga, có thể cho rằng, họ đang lợi thế hơn. Trong thực tế thì ngược lại. Sự thiếu chăm sóc và trợ giúp binh lính về phía Menshikov, cùng với sự tiếp tế thì quá tội nghiệp, do đó tệ quan liêu bị bao trùm rộng khắp, nạn biển thủ công quĩ quốc gia thì tràn lan, thói đút lót hối lộ của các quan chức Sa Hoàng ngày càng phát triển, dẫn đến việc bính lính Nga bắt đầu thiếu thốn và túng quẫn hàng hóa tư trang. Khi đó, trong phía quân đội Nga cũng đã bùng phát các căn bệnh về tiêu chảy và dạ dày. Sự tiếp tế khẩu phần lương thực và đạn dược cho Sevastopol bị cản trở vì những con đường đến đây vô cùng tồi tệ.
Vào thàng hai năm 1855, Hoàng tử Gorchakov đã lên thay thế Menshikov, làm tổng chỉ huy quân đội Danube. Vào mùa đông năm đó, Sevastopol đã trong một cuộc sống rất mạnh mẽ và đầy tích cực. Những công việc tu sửa lại các công sự bị tàn phá ngày càng hói hả; các khẩu đội pháo và các hào chiến đấu được chuyển lên phía trước; tổ chức rất nhiều cuộc xông phá vòng vây trong đêm tối với mục đích tiêu diệt các khẩu đội pháo, các công sự và bắt giữ tù binh của địch.
Có hhoảng chừng từ 20 – 30 đến 200 – 300 binh lính được huy động vào các cuộc xông phá vòng vây đó. Đôi khi, quân đội Nga tổ chức liền vài cuộc xông phá vòng vây trên nhiều trận đại khác nhau trong một đêm. Để tham gia vào những đêm xông phá vòng vây này, họ thường huy động những binh sĩ tình nguyện, và trong mỗi lần đó, đều có những người đứng ra tình nguyện nhiều hơn so với yêu cầu. Về sau, họ bắt đầu thành lập các đơn vị lính tình nguyện chuyên biệt. Khi đó, những binh sĩ chuyên tham gia xông phá vòng vây trong đêm tối gồm cả lính thủy, bộ binh và các sĩ quan.
Liệt kê một số người trong số họ như, trung úy Biryulez, trung tá Zavalishin, các thủy thủ Pyotr Koshka, Fyodor Zaika, Akseny Rybakov, Ivan Dimchenko, Ignaty Shevchenko và lính bộ Afanasy Eliseev, họ là những người nổi bật nhất trong những người anh hùng của Sevastopol. Toàn thể nhân dân Nga đều biết đến tên tuổi của họ. Dĩ nhiên, báo chí vào thời bấy giờ thì ít chú ý đến các “cấp bậc thấp” , họ chỉ tập trung nêu bật lên những tên tuổi của các cấp sĩ quan chỉ huy.
Các cuộc xông phá vòng vây cũng được tiến hành trên biển. Ví dụ như, vào ngày 24 tháng 11, theo lệnh của đô đốc Nakhimov, hai chiếc tàu khu trục hơi nước nhỏ mang tên Vladimir và Khersones, dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng G.I. Butakov trên chiếc Vladimir đã tham gia giao chiến với kẻ địch một trong chững trận xông phá đó. Chiếc Vladimir đã tấn công con tàu chân vịt Megera của địch, và đã kiểm soát được toàn bộ trận đánh của các tàu chiến Nga trên hải cảng. Chiếc Khersones cũng đã khiêu chiến với hai chiếc tàu hơi nước của địch. Tiến thẳng ra biển với tốc độ cao nhất, chiếc Vladimir đã nã vài phát pháo rất chính xác vào chiếc Megera. Phát tín hiệu bị tấn công bất ngờ, chiếc Megera cố gắng quay về hạm đội của nó đang đóng tại Kamyshy và hài cảng CôDắc. Nã thêm vài phát đại bác vào tàu địch, chiếc Vladimir đã cặp mạn cùng với chiếc Khersones, sau đó họ nhau bắn phá vào các tàu chiến và doanh trại của địch.
Trong khi đó, một số tàu chiến của địch bắt đầu kéo neo và tiến vào vùng chiến. Thấy tình hình không thể cắt được đường vào hải cảng, Butakov đã ra lệnh cho tất cả dừng trận chiến và quay trở về căn cứ mà không hề có một tổn thất nào.
Một cuộc chiến rải mìn dưới mặt đất, là một trận chiến có phạm vi rộng đáng chú ý trong cuộc vây hãm thành Sevastopol. Quân Pháp, không thể tiến đến được đồn lũy số 4, nên chúng đã quyết định đào các đường hầm rải mìn dưới mặt đất để hòng phá hủy đồn.
Tổng chỉ huy công binh hải quân Totleben ở Sevastopol, đã phát hiện ra mục đích của chúng, ông đã ra lệnh cho xây dựng mở rộng mặt trận chống mìn trước đồn lũy
Ý tưởng hệ thống chống mìn của Nga gồm: thực hiện một trận tấn công dưới mặt đất, phá hủy các đường hầm của địch và đánh bật chúng lui lại phía sau.
Cuộc chiến đặt mìn dưới mặt đất trong các chiến dịch phòng thủ Sevastopol, quân đội Nga đã đào được 7000 mét đường hầm và phá nổ 120 quả mìn của địch.
Đồn lũy số 4 anh hùng, đã đánh bật các cuộc tấn công trên và dưới mặt đất của quân Pháp
Phải đối mặt với các sự phản kháng mãnh liệt, quân địch không thể đột kích được vào đồn lũy số 4 trong cả mùa xuân và mùa hè năm 1855, và đây cũng là một lý do tại sao quân địch lại tập trung mọi nỗ lực vào cánh khác trên tuyến phòng thủ của quân đội Nga, ở đây gồm có các công sự chính, đồn nhỏ Malakhoff và đồn lũy số 2.
Vào tháng hai, quân địch đào thêm một số khẩu đội pháo, với hành động này chúng có ý định sẽ lấy điểm cao để bắn thẳng vào đồn Malakhoff và các mặt trận xung quanh đó. Để củng cố vững chắc đồn lũy này, sở chỉ huy quân đội Nga quyết định tấn công thẳng vào phía trước quân địch và chiếm lấy điểm cao này trước. Để làm được vấn đề này, họ sẽ phải củng cố vững chắc các điểm cao nằm phía sau Killen-balka. Mặt khác, quân địch cũng có thể đánh vào sườn và vào phía sau điểm cao nằm phía trước đồn Malakhoff.
Một chi đội dưới sự chỉ huy của tướng Khruschev, được lệnh củng cố các vị trí trên điểm cao phía sau Killen-balka. Chi đội này được biên chế hai trung đoàn gồm Volynsky và Seleginsky. Vào đêm ngày 10 tháng hai, cà hai trung đoàn đã tiếp cận được đến vị trí đã chọn. Trung đoàn Volynsky di chuyển về phía trước, để bảo vệ trung đoàn Seleginsky trong lúc này đang tiến hành xây dựng công sự. Và chỉ vào rạng đông ngày hôm sau, địch đã phát hiện ra quân đội Nga, và chúng tiến hành huy động pháo binh khạc đạn dữ dội vào họ. Thuy nhiên, họ vẫn không vì thế mà phải ngừng công việc của mình. Một công sự mới được xây dựng và mang tên là đồn Seleginsky. Quân địch trong lúc này, đã dồn mọi nỗ lực để quyết chiếm vị trí cố thủ chưa hoàn thành này bằng bất kỳ mọi giá.
Vào đêm ngày 12 tháng hai, quân địch cố gắng hòng đánh chiếm đồn Seleginsky, nhưng quân đội Nga đã đánh cho chúng phải tháo chạy tan tác
Những chiếc tàu khu trục hơi nước của Nga như, Vladimir, Khersones, Gromonosets và chiếc tàu chiến Chesma cũng đã tham chiến để đẩy lui các cuộc bắn phá tấn công của địch.
Ngày 17 tháng hai, quân đội Nga đã thành công trong những đợt tiến quân về phía trước, và bố trí lại được các công sự ở đồn Volynsky, cách khoảng 500 mét về phía hào chiến của địch. Ngày 27 tháng hai, cả hai đồn cố thủ được hoàn thành.
Thay đổi nội dung bởi: nthach, 09-06-2008 thời gian gửi bài 11:34
|