Ðề tài: Stalingrad
View Single Post
  #13  
Cũ 29-11-2007, 17:03
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

SỐ PHẬN TÙ BINH ĐỨC TẠI STALINGRAD

Ngày 22 tháng Sáu 1941, nhằm tổ chức một hệ thống kiểm soát tù binh chiến tranh, cơ quan NKVD Liên Xô đã thiết lập 8 khu trại có sức chứa 40-45 ngàn người, trong đó đã chứa sẵn 27.435 tù binh Ba Lan.

Ngay sau khi quân Đức xâm lược Liên Xô, NKVD đã nỗ lực tổ chức 30 điểm tập trung tù binh. Tới 22 tháng Bảy đã có 19 trại được lập xong. Tuy nhiên, tình hình ngoài mặt trận đã phát triển khác hẳn những kịch bản được chuẩn bị từ trước chiến tranh. Quân đội Xôviết, chống trả dũng cảm kiên cường, vừa rút lui vừa chiến đấu, đã chịu đựng những tổn thất khủng khiếp về người và vũ khí cùng trang thiết bị. Binh lính địch bị bắt làm tù binh không nhiều và nhu cầu cần có những trại tù đã không còn. Tới tháng Tám 1941, chỉ có ba trại sau: Grayzovetzky, Suzdal và Starobelsk, với sức chứa thiết kế là 8-9 ngàn người.
Cho tới khi trận Stalingrad diễn ra, tù binh bị bắt rất ít, cho tới 19 tháng Mười Một năm 1942 trong các trại chỉ có 19.787 tù binh. Nhưng sau Stalingrad, tất cả đột ngột thay đổi. Kết quả của cuộc phản công thắng lợi của quân đội Xôviết và sự tiêu diệt “cái túi” trong khu vực Stalingrad là 151.246 tù binh, trong đó chỉ thành phố Stalingrad đã chứa tới trên 90 ngàn tù binh. Trong thành phố bị chiến tranh tiêu hủy này không chỉ không đủ nơi ở cho họ mà cả không đủ nhiên liệu sưởi, quần áo ấm và phương tiện vận chuyển. Vô số người bị giá cóng và kiệt sức. (Theo tôi tình cảnh của họ chắc gần giống cảnh tù binh trong hồi ức của Nikolai Ob’rynba – LTD). Trong tình hình ấy cuộc vận chuyển được tổ chức kém, thiếu hiệu quả, vừa đói và lạnh, phải đi bộ những quãng đường dài tới 200-300 kilômét trong suốt 7-10 ngày và thậm chí dài hơn, thiếu thốn thuốc men, tỷ lệ bệnh tật và tử vong tăng nhanh trong số các tù binh.

Ngày 25 tháng Mười Một 1942, NKVD Liên Xô, sau khi nhận được thông tin về lượng tù binh khổng lồ, đã bố trí cho Chỉ huy Điều hành GULAG, đại úy Usievich trong vòng 2 ngày chuẩn bị mọi lương thực trang bị và chuyển chúng tới vùng Stalingrad.

Kể từ tháng Mười Một 1942, trong vùng Stalingrad người ta khẩn trương thiết lập các trạm tiếp nhận tù binh. Những phòng giam này không đủ chất lượng phục vụ mục đích trên. Tù binh Rumani và tù binh Đức bị nhốt chung với nhau. Trong nhiều trại đã có lệnh cho đối xử với tù binh Rumani tốt hơn hẳn với tù binh Đức. Tù binh Rumani được tự thiết lập bếp ăn và ở trong các nhà kho. Các đội lao động tù nhân cũng ưu tiên tuyển chọn trong các tù binh Rumani. Do đó họ được nhận nhiều thực phẩm và được cấp điều kiện sinh hoạt tốt hơn. Vì điều này đã xảy ra tình trạng thù địch giữa tù binh Rumani và tù binh Đức. Đồng thời, các sĩ quan và hạ sĩ quan đều bị nhốt chung với nhau.

Ngày 2 tháng Giêng 1943, Bộ trưởng Quốc phòng, đại tướng Khrulev đã ký mệnh lệnh số 001, trong đó công bố tình hình nghiêm trọng trong công tác vận chuyển tù binh từ mặt trận và đề xuất cách thức cải thiện tình hình này. Sau đó, ngày 12 tháng Giêng Mệnh lệnh Số 0049 của NKVD Liên Xô được ban hành theo đó các đặc phái viên được gửi tới các Phương diện quân Tây Nam, Nam và Đôn để tổ chức những điểm tiếp nhận tù binh và vận chuyển họ, tổ chức việc cung cấp thực phẩm và thuốc men, tổ chức công tác điều phối việc vận chuyển tới các điểm tập trung tù binh.

Để tiếp nhận và thu gom tù binh từ các mặt trận, NKVD ngày 20 tháng GIêng đã ra lệnh tổ chức các trại tù trong khu vực Stalingrad.
Dưới Mệnh lệnh Số 00345 của NKVD, từ 18 tháng Hai 1943, dưới sự điều phối của lực luợng NKVD hậu phương, người ta đã tổ chức việc vận chuyển các tù binh. Đồng thời cũng tổ chức các điểm tập trung tù binh, tổ chức công tác duy trì liên lạc với sở chỉ huy các phương diện quân và tập đoàn quân, tổ chức điều hành và phân phối tù binh tới các trại.

Nỗ lực chuyển tù binh từ Stalingrad đi bắt đầu trong tháng Giêng 1943. Tuy nhiên do hệ thống đường sắt bị hư hại, do thiếu toa tàu và đầu máy hơi nước (tất cả đã bị huy động cho cuộc tiến công Rostov) đã cản trở việc thực hiện. Đã có nhiều trường hợp tù binh Đức bị chất lên toa xe và đứng chờ trên sân ga trong suốt một tuần để chờ cho đầu máy xe lửa tới. Khi đầu tàu tới nơi thì tất cả số tù binh này đều đã chết.

Lo lắng vì tỷ lệ tử vong cao của tù binh, ngày 1 tháng Ba Beria đã ký Mệnh lệnh Số 00396 “Về việc vận chuyển tù binh từ các trại và điểm tập kết dọc mặt trận”, trong đó việc vận chuyển về sâu trong nội địa của 78.500 tù binh từ Stalingrad được tính toán với nhịp độ một chuyến tàu đặc biệt (2.500 người) một ngày. Tuy nhiên mệnh lệnh này đã chậm mất hơn một tháng. Tới thời điểm này rất nhiều tù binh đã chết, số còn lại trong tình trạng rất khốn quẫn. Tuy mệnh lệnh trên đã được thực hiện với nỗ lực cao, chỉ còn 27.295 tù binh được chuyển đi. Trong khu vực của Phương diện quân Nam và Tây Nam còn ít hơn – trong số 32.063 người chỉ còn 6732 người.

Tuy nhiên điều kiện trên các chuyến tàu đặc biệt này khá tồi tệ, tại trại tù binh Pokrovsky Số 127 (thuộc tỉnh Saratov) từ 4 tháng Ba tới 13 tháng Ba đã tiếp nhận ba chuyến tàu đặc biệt từ Stalingrad chứa tổng cộng 8007 người, trong đó có 1526 người chết trên đường vận chuyển. Sau đó tình trạng tử vong vẫn tiếp diễn – vì thiếu ăn (4326 người), bị giá cóng (162 người), tiêu chảy (54 người), do vết thương (23 người), vì các lý do khác (98 người). Tới ngày 1 tháng Năm, số còn sống chỉ còn là 1818! Mà ta thấy đó, trại này nằm ngay gần Stalingrad.
Khu trại lớn nhất được tổ chức tại Beketovka (trại tù Beketovka Số 108). Trước kia nơi đây là một trường học với các dãy nhà gạch. Trường đã bị phá huỷ một phần, không còn cửa sổ và mái. Tù binh ngủ trên sàn nhà, dưới cái lạnh âm 20o C. Sau đó các tù binh đã xây dựng một trại mới và chuyển tất cả tới đó. Trại được canh gác cẩu thả (do đó tháng Tám 1943 trại trưởng trại này đã bị cách chức). Rất nhiều tù binh đã trốn thoát từ trại này.
Thông tin về các vụ đào thoát chỉ được ghi lại kể từ tháng Năm 1943. Trước đó chúng không hề được lưu lại.
Các vụ năm 1943 - 50 người (chỉ bắt lại được 42)
Các vụ năm 1944 - 10 (bắt lại 0)
Các vụ năm 1945 - 6 (bắt lại 0)
Rất nhiều người khi bị bắt làm tù binh đang bị thương, bị giá cóng và chỉ được sơ cấp cứu. S7 cấp cứu cho tù binh được các bác sĩ Đức và các nhân viên y tế bị bắt làm tù binh thực hiện. Chỉ huy trại cung cấp cho họ thuốc men, nhưng với số lượng rất giới hạn, do số lớn thuốc vẫn còn đang trên đường vận chuyển. (Điều này dễ hiểu, ngay việc phân phối cho Hồng quân cũng rất khó khăn – LTD). Do đó đã có rất nhiều tù binh thiệt mạng.

Theo các số liệu chính thức từ tháng Hai tới 15 tháng Tư năm 1943, tại trại Beketovka Số 108 đã có 24.346 người chết. Các số liệu về thời gian trước năm 1943 đều không thấy có, do đó giờ đây thật khó có thể xác định có bao nhiêu tù binh đã chết trong năm 1943, nhưng ta có thể xác định rằng tỷ lệ tử vong là rất cao.
Số liệu về tỷ lệ tử vong tại trại Beketovka:
1944 - 738 người
1945 - 788 người
1946 - 59 người
1947 - 42 người
1948 - 4 người
1949 - 5 người
Tháng Ba năm 1943 bắt đầu với việc phân phối tù binh về nhiều trại khác nhau rải khắp đất nước. Các sĩ quan bị đưa về các trại dưới đây:
1) Trại Oransky Số 74 (tỉnh Gorky) - trại cho sĩ quan Đức
2) Trại Elabuga Số 97 (Nước Cộng hòa Tatar ASSR) - trại cho sĩ quan Đức
3) Trại Suzdal Số 160 (tỉnh Vladimir) - trại cho sĩ quan Rumani
4) Trại Krasnogorsk Số 27 - Trại cho sĩ quan cao cấp (tướng tá Đức, trong đó có Thống chế Paulus) – (Xin nói thêm, Thống chế Paulus về sau đã gia nhập Đảng Cộng sản và giảng dạy về lý luận chiến tranh tại Maskva, có thể vì lý do chính trị. Về cuối đời ông mới được trở về quê hương. – LTD)
Các hạ sĩ quan và lính thường được chuyển tới các trại sau:
1) Astrakhan Số 60
2) Kapustin Yar Số 89
3) Frolov Số 50
4) Khrenovsky Số 81
5) Novorhopersky Số 62
6) Beketovka Số 108
7) Urupinsk Số 123
9) Bereznayki Số 241 (tỉnh Molotov)
10) Spasozavodsky Số 99 (Karaganda)
11) Raybovsky Số 75 (Udmurtiyas)
12) Pokrovsky Số 125 (tỉnh Saratov)
13) Tyumen Số 93 (tỉnh Omsk)
14) Farhkatsky Số 86 (Cộng hòa Uzbek ASSR)
Trong các trại tù binh, tù nhân được đưa đi lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Nhiều người đã tham gia việc tái kiến thiết nền kinh tế Liên Xô đã bị chiến tranh phá huỷ.
Có khoảng 10.000 tù binh Đức (thuộc trại Bekotovka Số 108) tham gia tái thiết thành phố Stalingrad cho tới năm 1950. Khu trung tâm Stalingrad, nhà ga "Stalingrad I" là do người Đức xây dựng.
Sau khi chiến tranh kết thức, Chính phủ Liên Xô bắt đầu tiến hành cho phép tù binh Đức hồi hương. Nhóm hạ sĩ quan và binh lính đầu tiên được hồi hương là ngày 15 tháng Sáu 1945. Đó là nhóm người bị thương tật, bị bệnh hay suy dinh dưỡng nặng. Ban đầu họ được chuyển từ trại cũ tới Trại tù trung chuyển Số 68 vùng Frankfurt bên sông Oder. Rồi từ đó họ được thả về nhà. Trong liên tiếp những năm tiếp theo các nhóm tù binh khác cũng được phép hồi hương.
Năm 1947 - chỉ các tù binh bị bệnh.
Năm 1948 - chỉ các tù binh bị bệnh.
Ngày 19 tháng Hai 1949 người ta đã ban hành Lệnh Số 751 về việc cho phép hồi hương tất cả các binh lính mà không cần ngoại lệ. Chỉ duy những tù binh phạm tội ác chiến tranh bị giữ lại để xét xử trước Chính phủ Xôviết.
Năm 1949 là đợt hồi hương với số lượng đông đảo nhất. Gần 80 % tù binh Đức là cựu quân nhân thuộc Tập đoàn quân số 6 (tham chiến tại Stalingrad – LTD) được thả trong năm 1949.
Ngày 5 tháng Ba 1950, Chính phủ Xôviết tuyên bố kết thúc việc hồi hương. Nhưng trong các trại tù vẫn còn rất nhiều người Đức. Trong đó phần lớn là những quân nhân Đức bị kết tội ác chiến tranh hay các tội nặng khác.
Cựu tư lệnh Tập đoàn quân 6 Đức Friedrich Paulus cũng được hồi hương năm 1950.
Và rồi Mệnh lệnh số 00201 của MVD (tiền thân là NKVD – LTD) được ban hành theo đó việc tha về các viên tướng "Stalingrad". Những tướng sau bị kết án:

1) Alexander Edler von Daniels - cựu Sư trưởng Sư đoàn Bộ binh 376
2) Max Pfeffer - cựu Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn bộ binh IV
3) Arthur Schmidt - cựu Tham mưu trưởng Tập đoàn quân số 6
4) Karl Strecker - cựu lữ đoàn trưởng lữ đoàn bộ binh XI
5) Walther von Seydlitz-Kurzbach - cựu Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn bộ binh LI
6) Erik Magnus - cựu Sư trưởng Sư đoàn bộ binh 389
7) Otto Rinoldi - cựu tư lệnh quân y Tập đoàn quân số 6
Ulrich Vassoll - cựu tư lệnh pháo binh Tập đoàn quân 6
Năm 1953, sau khi Stalin chết, Chính phủ Liên Xô tuyên bố trả tự do cho tất cả tù binh Đức. Cho tới cuối năm 1955, việc hồi hương tù binh trong thực tế đã hoàn toàn kết thúc. Người cuối cùng được thả về nhà là cựu Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn bộ binh LI, Walther von Seydlitz-Kurzbach. Ông ta được thả về tháng Giêng, 1956.


Khẩu phần hàng ngày của tù binh chiến tranh (gram)

Loại thực phẩm KP binh nhất và hạ sĩ quan
Bánh mì 400
Bột lúa mạch (pha tạp chất) 70
Mì ống 10
Thịt 30
Cá 50
Bơ 10
Đường 10
Trà -
Muối 10
Khoai tây 300
Cải bắp 100
Cà rốt 30
Hành 10 10
Xà phòng (một tháng) 200
Xì gà -
Thuốc lá (gram) 10
Diêm (một tháng) 3 hộp

Loại thực phẩm Khẩu phần sĩ quan
Bánh mì 600
Bột lúa mạch (pha tạp chất) 80
Mì ống 20
Thịt 50
Cá 50
Bơ 10
Đường 20
Trà 0,1
Muối 12
Khoai tây 360
Cải bắp 150
Cà rốt 30
Hành 10
Xà phòng (một tháng) 200
Xì gà 15 điếu
Thuốc lá (gram) -
Diêm (một tháng) 3 hộp

CHIẾN LỢI PHẨM STALINGRAD

Gồm tất cả chiến lợi phẩm được các đơn vị Hồng quân chiếm được trong đợt phản công tại Stalingrad từ 19 tháng Mười Một 1942 cho tới 2 tháng Hai1943. Số liệu lấy từ hồ sơ lưu của phía Xôviết.


Bắt làm tù binh:
1 Thống chế (Paulus)
24 tướng
91.000 binh lính và sĩ quan

Trang thiết bị:
156.897 – súng trường
10.000 - tiểu liên
12.000 – súng máy
5.762 – pháo các cỡ
3.000 - cối
1666 – xe tăng
744 – máy bay
261 – xe bọc thép
10.000 – mô tô
3 – đoàn tàu bọc thép
80.438 – xe tải
240 – máy kéo
571- xe bánh xích
58 - đầu tàu hơi nước
1.403 – toa tàu
13.787 – xe ngựa
696 - trạm thu phát vô tuyến
933 - điện thoại
337 – kho quân trang

Nguồn:
http://www.stalingrad.by.ru/arms.html
Trả lời kèm theo trích dẫn