Nhân khi đọc
phát biểu của Putin tại Valdai, cũng đáng đọc lại bài viết cũ này. Đáng ngạc nhiên là bài viết đó lại là của Iury Luzhkov, nhân vật cựu thị trưởng Mat-xcơ-va trăm năm công tội.
Không rõ bài dịch là của ai, đăng ở đâu.
13.07.2006 Iury Luzhkov - Rossiskaya Gazeta
http://www.rg.ru/2006/06/15/luzhkov-zapad.html
Chúng ta biết rằng các dân tộc phưưong Tây không hiểu và không chịu đựng được một nước Nga đặc thù, riêng biệt. Họ coi nhà nước Nga thống nhất chỉ như một cái đập chắn nước để từ đó phát tán tiềm năng kinh doanh, ngôn ngữ và chiếm hữu của mình. Họ dự định tách rời “cây chổi” thống nhất toàn Nga ra thành từng que nhỏ để rồi bẻ gẫy từng que và dùng chúng để nhen nhóm lại ngọn lửa văn minh phương Tây đang sắp lụi tàn. Cần phải chia nhỏ nước Nga để phá huỷ sự liên kết của nó, đồng hoá nó để rồi chính bằng cách đó huỷ diệt nó - Ivan Ilin
Quan hệ giữa Nga và phương Tây hiện nay có thể khắc hoạ một cách chính xác nhất qua một từ – lạ lẫm. Tình trạng lạ lẫm này có ở cả hai phía, mặc dù nguyên nhân ban đầu của nó bắt nguồn từ nỗi bối rối ồn ào và lo ngại chộn rộn, được thể hiện trong thời gian gần đây qua phản ứng của các nước phương Tây trước những gì xảy ra ở Nga.
Đằng sau thái độ phản ứng một cách căng thẳng ấy là cả một lịch sử lâu đời. Dẫu cho Nga hiển nhiên thuộc về các dân tộc châu Âu, dẫu cho tiến trình phát triển của Nga luôn đồng hành với tiến trình lịch sử và văn hoá châu Âu không chỉ trong từng hoàn cảnh cụ thể mà còn thường trực và lâu dài, châu Âu – nơi vẫn được coi là đất Mẹ của nền văn minh phương Tây hiện đại, vẫn quen có thái độ thèm muốn chen lẫn sợ hãi trước nước Nga.
Cả hai trạng thái tình cảm ấy của châu Âu bắt nguồn từ tâm trạng có một láng giềng sát nách là nước Nga với lãnh thổ bao la, rộng lớn và khắc nghiệt, không chỉ trên tấm bản đồ vô cảm mà còn trên thực tế cảm nhận được về địa lý. Chính từ trạng thái mang tính chất không gian như vậy mà nhận thức “chúng ta nằm cạnh nhau, ở cùng nhau, nhưng chúng ta không hề là một”, dù cho có khi mờ có khi tỏ song ngày càng lớn.
Gần một trăm năm mươi năm trước nhà triết học và sử học nổi tiếng Nikolai Đanilevsky đã miêu tả vấn đề này một cách hoàn toàn chính xác. Khi nhìn nước Nga trước mặt, châu Âu “…bất giác cảm thấy ẩn dưới bề mặt đó là một cốt lõi cứng rắn, vững chắc không thể phá vỡ, không thể nghiền nhỏ, không thể hoà tan – một cốt lõi mà vì vậy dĩ nhiên châu Âu không thể đồng hoá, không thể hoá giải thành máu thịt của mình,- một cốt lõi có sức mạnh và khát vọng sống một đời sống độc lập và tự chủ”.
Và rồi phương Tây không thể nào chịu đựng được cái “sức mạnh và nỗi khát khao” độc lập và tự chủ của nước Nga, cũng như không thể nhẫn nhịn khi không có khả năng “phá vỡ và hoà tan” chủ quyền của Nga. Chính vì thế, theo như Đanilevky đã viết, nước Nga không ngừng thường xuyên phải nghe đi nghe lại lời buộc tội mình là một đế chế, một “quốc gia chuyên chiếm hữu”, thêm vào đó còn bị coi là một “thế lực hắc ám, thù địch với tiến bộ và tự do”.
Cần phải nói rằng tình hình từ đó dến nay không có gì thay đổi. Ngày nay “chúng ta vẫn nghe thấy tiếng rên rỉ khắp nơi” như trước. Đây cũng là những nhận thức sâu xa về sự khủng hoảng mà phương Tây lâm vào trong quan hệ với Nga. Cả “sự lo ngại’ trong các tuyên bố ngoại giao trước những kế hoạch của Nga về củng cố và phát triển kinh tế của chính mình. Cả những lời hô hào bảo vệ thế giới khỏi sự bành trướng về năng lượng của người Nga đang đè bẹp các nước láng giềng có xu hướng “cách mạng cam”. Và cả những lời than vãn chán chường về con gấu Nga chuyên chế không hiểu gì về dân chủ và đang chà đạp dân chủ. Rồi còn những tiếng kêu gào thảm thiết về tham vọng đế chế của Nga chen lẫn lời hô hào tạo dựng quanh Nga một hành lang phòng ngừa hay một bức màn bảo vệ mới nào đó.
Trong bối cảnh đó những lời hô hào đòi hỏi Nga phải trở lại “con đường tiến bộ và dân chủ” bằng cách cho tổ chức các cuộc liên hoan đồng tính tại trung tâm thủ đô Moskva – hơn nữa là còn ngay trên mảnh đất thiêng liêng đối với mỗi người dân nước Nga là mộ Chiến sĩ vô danh,- không gì khác hơn là trạng thái loạn thần kinh một cách tuyệt vọng song cũng không kém phần điên rồ.
Cũng dễ hiểu rằng toàn bộ tham vọng lên tới đỉnh điểm và dòng “nhận thức” được phương Tây thể hiện đó ngược lại cũng gây nên nỗi lạ lẫm từ phía Nga. ít nhất Nga muốn thảo luận các chủ đề song phương và các vấn đề chung theo phương cách tránh tình trạng làm thinh hay những câu trả lời lảng tránh, đồng thời cũng không chấp nhận kiểu suy diễn phỏng đoán và các tiêu chuẩn hai mặt. Chúng ta cũng muốn trong đàm phán không có những khuôn mẫu hoá thạch của các chính trị gia “khủng long” thời Fulton (lời phát biểu tại trường đại học tại thành phố Fulton bang Missouri (Hoa Kỳ) ngày 5/3/1946 của thủ tướng Anh Churchil được coi là dấu mốc mở màn “chiến tranh lạnh- ND”) hay thời kỳ Vilnius.
Nếu khác đi thì hai bên chúng ta sẽ mất đi điều chính yếu nhất là khả năng đối thoại trung thực và mang tính đối tác xây dựng.
“Nước Nga lấy lại sức mạnh”
Đầu tháng 5 vừa rồi lãnh đạo chương trình Nga - Âu-á thuộc Trung tâm Carnegie của Mỹ là Andrew Cachins trong một bài báo đăng trên tờ The Wall Street Journal cuối cùng đã giúp phương Tây nhận thức dược thực chất vấn dề. Theo kết luận công bằng của ông thì thực chất tình trạng mà Mỹ và có lẽ còn nhiều thế lực khác trên thế giới này đang khó lòng nhẫn nhịn được chính là vì nước Nga đã trở lại chính trường và lấy lại sức mạnh sau hai thập niên sa sút. Nước Nga đã quay lại cuộc chơi sau quãng time-out địa chính trị đau đớn và những thương tích nặng nề mà nó gánh chịu khi Liên Xô tan rã.
Đúng là như vậy và không gì khác hơn, không nhiều hơn và cũng không ít hơn. Không hề có “đế chế ác bá” mới nào hay một “con quỷ chuyên chế” nào. Chỉ có một nuớc Nga đang một lần nữa nhận chân lợi ích quốc gia của mình và sẵn sàng bảo vệ lợi ích ấy. Bảo vệ không tốt hơn mà cũng không tồi hơn Mỹ, các cường quốc châu Âu hay bất kỳ nước nào trên thế giới.
Có thể ai đó khó nhận thức được điều này, song rồi họ cũng sẽ phải chấp nhận mà thôi.
Đơn giản chỉ là để duy trì một chính sách thực tiễn, để đánh giá tình hình một cách hợp lý, để xây dựng quan hệ bình thường và đối tác với nước Nga. Điều này thật sự hay hơn là nhăm nhe vẫy “cờ da cam” và nghĩ ra những lời nguyền ma thuật hòng đẩy nuớc Nga trở lại. Hơn là che đậy tâm lý của chính mình không muốn thừa nhận thực tại dưới những lời nguyền rủa nhằm vào điện Kremlin.
Đáng tiếc rằng hiện nay trên thực tế chính phương Tây lại hết sức nặng nề, bối rối và cái chính là còn lâu mới hoàn toàn thoát khỏi những định kiến trong quan hệ với Nga.
Thái độ của phương Tây đối với Nga tiếp tục dao động một cách kỳ quặc giữa sự sợ hãi và sự phấn khích. Nỗi sợ hãi trước những người bôn-sê-vích, trước “cách mạng toàn cầu” và Liên Xô được thay thế bằng nỗi phấn khích khi diễn ra quá trình “cải tổ đến đổ nát” cuối thập kỷ 80, rồi sau đó là tình trạng hỗn loạn khi thể chế nhà nước non yếu và việc nước Nga sẵn sàng đem mình ra làm con tin để đổi lấy sự tung hô của “cộng đồng thế giới” vào thập kỷ 90. Sự hân hoan đó còn trở nên sâu sắc hơn nữa khi trong bối cảnh hỗn loạn ấy phương Tây không mất chi phí gì đã tiếp cận được các nguồn tài nguyên quốc gia của Nga.
Không có gì đáng ngạc nhiên khi cơn say hưng phấn ấy của phương Tây lại gặp ngay phải “cơn đói thuốc” khi nước Nga bắt đầu gượng dậy. Và các nhà xô-viết học tại phương Tây lại “lên ngựa” sau kỳ nghỉ, ra sức thuyết trình để làm sống dậy trong dân chúng phương Tây nỗi sợ hãi trước “nước Nga rừng rú” và để nhận được hàng chục sự đảm bảo trong những vụ đầu cơ xung quanh “sự phục sinh của quái vật Frankenstein xô-viết” và “ngày tận thế”, dường như những hiểm hoạ đó ngay lập tức sẽ xảy ra khi nhà nước Nga chỉ mới mạnh lên đôi chút.
Nói chung, ở phương Tây ngày nay vẫn không thiếu gì những lời tiên tri đáng sợ như thế. Sự dao động giữa các sắc thái tâm lý của phương Tây không thể nào chậm lại để trở về điểm giữa – nơi có mảnh đất vững chãi dưới chân để từ đó cuối cùng có thể nhìn sang nước Nga một cách bình thản và thực tế.
Lịch sử lặp lại
Tình trạng này còn có một nguyên nhân căn bản nữa. Sự kiện Liên Xô tan rã, mất đi cán cân lực lượng giữa hai hệ thống thế giới đã xác định tiến trình phát triển của thế giới trong gần suốt thế kỷ XX nay làm nảy sinh ở phương Tây cảm giác lo sợ rằng sự tiến hoá của nền văn minh toàn thế giới và sức mạnh tối cao về mặt lịch sử và địa chính trị mà nó đạt được sắp sửa kết thúc.
Học thuyết “vòng khép lịch sử” đã từng được phương Tây tuyên bố khẳng định rằng thế giới phương Tây cùng các giá trị của nó cũng như cấu trúc kinh tế và hệ thống chính trị được xây dựng trên cơ sở của họ là thành tựu cao nhất của thế giới văn minh. Các nước và các hệ thống còn lại trong tiến trình toàn cầu hoá bằng cách này hay cách khác theo logic tương tự cũng sẽ chỉ lặp lại “theo đuôi” phương Tây mà thôi.
Tương lai của nhân loại cần phải biến thành một quá trình cơ học xay nhỏ các nước, các dân tộc và các nền văn hoá, trong đó không phải tất cả đều sẽ đến được, vươn tới được ”đỉnh cao văn minh” của xã hội phương Tây hiện đại. Quan niệm quá đơn giản về cuộc sống ấy khiến phương Tây không đếm xỉa gì đến thế giới còn lại và đồng thời sản sinh ra “chủ nghĩa ích kỷ toàn cầu” của nền văn minh phương Tây, cho mình có quyền can thiệp vào bất kỳ tình huống nào tại bất kỳ địa điểm nào trên Trái Đất, trên cơ sở các khái niệm “nhân đạo” và giá trị tiến bộ.
Kết cục là trong một thập kỷ rưỡi gần đây chúng ta phải chứng kiến những kế hoạch gây ấn tượng và đồng thời cũng hết sức đáng tiếc của phương Tây, trước hết là Mỹ, sau khi tự trao cho mình sứ mệnh “xúc tiến dân chủ trên thế giới”, đã tiến hành dân chủ hoá bằng phương pháp bạo lực đối với các nước riêng rẽ, thậm chí cả các khu vực trên hành tinh này.
Trước kia cũng chính Liên Xô đã làm điều đó, khi định kéo một số nước khỏi chủ nghĩa phong kiến hay thậm chí chỉ là chế độ bộ tộc tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản.
Tuy nhiên gánh nặng “điều khiển các quốc gia và dân tộc từ bên ngoài” khi tiêu diệt khái niệm “chủ quyền dân tộc” có lẽ sẽ không thể nào nhấc lên được. Không nên quên rằng ngày nay trên thế giới có những thế lực chính trị có khả năng sử dụng tiến trình dân chủ hoá toàn cầu theo hướng hoàn toàn khác, đối lập hẳn với khái niệm này.
Khi tự cho mình có quyền của kẻ mạnh để xác định vấn đề ai đúng ai sai thì chính phương Tây lại sa chân vào bẫy. Bởi vì không gì có thể cản trở được đại diện của “thế lực khủng bố toàn thế giới” cũng quyết định như vậy, rằng chúng cao hơn chúng ta và trên cơ sở ấy tự cho mình có quyền điều khiển cuộc sống và số phận chúng ta.
Nay đã rõ ý định “khép lại lịch sử” không gì khác hơn là một ảo tưởng. Sau thảm kịch ngày 11/9/2001 tại New York tác giả của chính học thuyết “vòng khép lịch sử” là Fransis Fukuyama viết rằng Hoa Kỳ từ đây sẽ trở thành một đất nước khác, thống nhất hơn, ít ích kỷ hơn và cần sự giúp đỡ của bạn bè hơn trước rất nhiều – một đất nước với những lợi ích cụ thể hơn và những điểm yếu của mình, chứ không phải là một cường quốc cho rằng mình có thể đơn phương quyết định thế giới mà nó đang tồn tại sẽ phải như thế nào.
Thiết tưởng kết luận ấy ngày nay mang tính thời sự hơn bao giờ hết không chỉ đối với Mỹ mà còn với tất cả thế giới phương Tây. Trước đây tổng thống Mỹ Ronald Regan đã từng kêu gọi Liên Xô trở thành “một đất nước bình thường”. Nước Nga ngày nay hiển nhiên đã trở thành như vậy. Chính phương Tây ngày nay mới cần liệu pháp “từ trên trời trở về mặt đất” tương tự như vậy.
Thế giới phương Tây không nên coi sự trở lại vũ đài chính trị, sự củng cố và tăng cường thể chế nhà nước của Nga như mối đe doạ, mà ngược lại nên nhìn nhận nó như một trụ cột quan trọng cho an ninh thế giới và sự trở lại đời sống bình thường của chính mình, đời sống bình thường ngay trong chính thế giới “phức tạp, phụ thuộc lẫn nhau và luôn biến đổi” ấy.
Chính danh
Đáng tiếc là ở phương Tây ngày nay vẫn có xu hướng nghi ngờ rằng những quá trình đang diễn ra tại Nga bao hàm “mối nguy hại”.
Người ta tiếp tục phân tích chính sách của Nga trên cơ sở những khuôn mẫu và nhận thức thâm căn cố đế rằng đặc tính của nước Nga là “độc tài”, “đế quốc”, “xâm lăng”.
Trên thực tế toàn bộ bối cảnh đó Khổng Tử từ xưa đã đưa ra dự báo chính xác: “Danh không chính thì ngôn bất thuận. Ngôn không thuận thì sự bất thành”. Trong quan hệ giữa Nga và phương Tây tại thời điểm này đang rất cần sự “chính danh” đó, từ bỏ cách hiểu không đúng đắn về lời nói và ý nghĩa các sự kiện.
Bây giờ nói về dân chủ. ở đây toàn bộ đám đông các nhà xô-viết học phương Tây, giống như con ngựa kéo pháo già hễ nghe tiếng kèn xung trận là bắt đầu gõ móng vào đề tài “đám ma dân chủ tại Nga”. Tuy nhiên sự việc ở đây hoàn toàn khác hẳn.
Quá trình dân chủ hoá ở Nga có tính đặc thù riêng khác biệt. Đặc thù đó là các quá trình dân chủ diễn ra trong 15 năm gần đây tại Nga thực chất không hề có một hình mẫu tương tự nào trong lịch sử của nó. Tất cả đều mới – và luôn nặng nề trăn trở, đầy rẫy sai lầm cần sửa chữa. Nước Nga ngày nay vẫn đang phải sửa chữa những sai lầm ấy. Chính vì thế nên cuộc bơi “không chèo không lái” trong những năm 90 đã làm cho dân tộc Nga hiểu được sự cần thiết phải tiến tới tương lai một cách thận trọng hơn, cần có sự bảo thủ sáng suốt và cẩn trọng trong những cải tổ tiếp theo. Nước Nga cần tập trung phối hợp các giá trị truyền thống mà nếu thiếu chúng đất nước sẽ không còn tồn tại, cần một chính sách dân chủ mà nếu không có nó đất nước sẽ không thể phát triển. Nga hiện nay đang thực thi chính sách như vậy.
Chính sách này được thực hiện ở khắp nơi. Chắc không ai có thể khẳng định dứt khoát rằng trên đời này tồn tại một tiêu chuẩn dân chủ chung “được dán nhãn” nào đó, cũng như một “băng chuyền” duy nhất để sản xuất ra nó cho cả thế giới (mặc dù có thể ai đó muốn như vậy). Bất kỳ đất nước nào cũng muốn kết hợp một cách tối ưu những giá trị lịch sử và văn hoá của mình với các định chế dân chủ. Tương tự như vậy trên thế giới không chỉ có một mẫu xe duy nhất cho mọi thời đại, và mọi người sẽ đi loại xe nào tiện lợi và cần thiết nhất đối với họ – từ xe nhỏ đến xe đường trường. Những mẫu xe đó khác xa nhau, như Toyota, Mercedes hay Ford sản xuất bên kia đại dương.
Cũng nên gợi nhớ rằng tiến trình phát triển chính trị ấy cho đến cách đây chưa lâu còn song hành với sự yếu kém, “bán tan rã” của nhà nước, đến mức nhà nước bị biến thành công cụ trộm cắp, thành trợ thủ cho các mánh khóe và mưu đồ vô liêm sỉ của các nhóm người, thậm chí của một số nhân vật.
Nếu như ta coi nhóm “bảy nhà tài phiệt ngân hàng” (7 chủ ngân hàng và doanh nhiệp có ảnh hưởng nhất tại Nga dưới thời Ensin, tài trợ cho cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, tượng trưng cho giới tài phiệt thao túng chính quyền Nga lúc bấy giờ, gồm B.Berezovsky (Logovaz), V.Gusinsky (Most-bank), V.Potanin (ONEKSSIMBANK), A.Smolensky (Bank SBS-Agro), V.Vinagradov (Incombank), V.Khođorkovsky (YUKOS) và M.Fridman (Alfa-bank)- ND ), những kẻ lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng để phục vụ lợi ích riêng hay những kẻ chiếm doạt sở hữu nhà nước, là dân chủ, thì nền “dân chủ” tài phiệt như vậy trong bất kì trường hợp nào cũng có thể và cần phải gọi là một nền dân chủ yếu kém.
Và những gì chúng ta đang làm tại nước Nga giờ đây chính là quá trình “định danh” cho “nền dân chủ phế phẩm” không gì khác hơn là tình trạng hỗn loạn vô chính phủ dưới sự thao túng của giới tài phiệt.
Vì vậy đây là cái gì đó khác với quá trình tăng cường dân chủ thông thường, cho dù là phức tạp, song là quá trình phát triển các định chế dân chủ, cấy rễ các truyền thống dân chủ trong xã hội. Có những lúc quá trình này diễn ra lâu, chậm, đôi khi còn đau đớn., thỉnh thoảng chúng ta còn học được kinh nghiệm ngay từ những tấm gương xấu. Song chắc chắn đó là quá trình xây dựng một nhà nước dân chủ vững mạnh, một nhà nước có thể và cần phải trở thành thành viên xứng đáng và bình đẳng trong cộng đồng các nền dân chủ có chủ quyền trên thế giới.
Những quy luật khác của cuộc chơi khác
Sự vô vị trong quá khứ của nhiều nhà “xô-viết học” phương Tây còn thể hiện nhiều hơn trong những nỗi e sợ đang tồn tại hiện nay về “xu hướng đế quốc” của Nga. Đôi khi có cảm giác rằng phương Tây tiếp tục tư duy theo các khái niệm đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ, mặc dù “chiến tranh lạnh” đã kết thúc song trong đầu nhiều chính khách và chuyên gia phương Tây vẫn tiếp tục hiện diện ý nghĩ rằng “cuộc đấu bốc tay đôi” vẫn đang tiếp diễn, rằng mới chỉ có hiệp một kết thúc, sau đó còn nhiều cú ra đòn nữa.
Thực chất “cuộc đấu bốc” đã kết thúc và chúng ta từ lâu đã chuyển sang trò chơi khác.
Có thể trò chơi mới đó là cờ vua, và khi ấy cần nhắc nhở đối thủ của chúng ta bên bàn cờ rằng các kỳ thủ đứng đắn không bao giờ đưa bàn cờ vào vị trí bé tắc hay tệ hơn nữa là tráo quân khi chơi. Cũng có thể lịch sử hiện đại đòi hỏi chúng ta phải chơi cùng nhau trong một đội bóng. Khi ấy chúng ta còn cần nhiều hơn nữa sự phối hợp ăn ý, tình đồng đội, khả năng hiểu nhau từ nửa lời nói.
Tuy nhiên chính do “các khuôn mẫu đấu bốc” trước kia mà cho đến giờ nơi cần có những khái niệm “lợi ích dân tộc” hay “hợp tác” thì lại vang lên từ ngữ về tham vọng đế quốc và đối đầu. Một lần nữa có ai đó lại báo động “chiến tranh lạnh” khi nước Nga nâng cao khả năng phòng thủ đất nước. Mặc dù rõ ràng là Nga cần phải và có quyền chống lại chính sách ngoại lai nếu chính sách ấy đe doạ lợi ích của nước Nga và công dân Nga, chủ quyền dân tộc, sự toàn vẹn và ổn định của nhà nước Nga. Cũng đúng như thế, khi hiểu hơn nhiều nước khác mối nguy hại của chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa khủng bố và ly khai trong thế giới hiện đại, Nga luôn là một thành viên và người tham gia tích cực vào liên minh chống khủng bố quốc tế.
Việc nâng cao khả năng phòng thủ là sự biểu dương trước tất cả các thế lực trên thế giới (bao gồm cả bọn khủng bố và các thế lực “đen” bất hợp pháp), rằng nước Nga không phải là lối đi để thoả mãn những thèm muốn không hề chay tịnh gì kiểu chó sói của chúng. Và cũng là để thể hiện rằng nước Nga sẵn sàng hợp tác với các nước khác để đảm bảo một trật tự thế giới ổn định. Tất cả các nước khác trên thế giới cũng làm đúng như thế, nếu không muốn kết thúc cuộc đời bằng tự sát.
Còn một tâm trạng lạ lẫm nữa khi phương Tây trách cứ Nga, dường như sự hợp tác của Nga với các nước láng giềng hay phát triển năng lượng là nhằm mục đích bành trướng.
Có lần tôi đã viết rằng thế kỷ XXI là giai đoạn hình thành các “đại lục địa chính trị’, các hệ thống chính trị-kinh tế trên tầm quốc gia, các thị trường chung toàn cầu, các “khu vực ảnh hưởng” thông tin và văn hoá. Trong thế giới này chỉ quốc gia nào hay một nhóm quốc gia nào có được dự án hội nhập toàn cầu của riêng mình giúp họ phát triển và củng cố vị thế, thì mới có khả năng không bị đào thải khỏi dòng chảy phát triển chung. Trong đó phải kể đến việc phải đối mặt với những hiện tượng mới quy mô thế giới như chủ nghĩa khủng bố quốc tế hay sự xuất hiện cả một hạ tầng các định chế và cơ cấu quản lý sự phát triển của nước này hay nước khác “từ bên ngoài”.
Trong đó, dù thuộc về nền văn minh châu Âu, nước Nga khách quan mà nói cũng không thể nào đơn thuần gia nhập kế hoạch hội nhập châu Âu của EU. Một thử nghiệm như vậy chắc chắn sẽ thất bại đối với cả hai phía do không thể dung hoà toàn bộ mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, đặc biệt là địa chính trị nảy sinh trong quá trình đó.
Chính vì vậy nước Nga trong thế giới hiện đại về khách quan cần tập hợp quanh mình và dự án tương lai của mình một phần của thế giới, trước hết là không gian hậu xô-viết và “thế giới đồng bào’.
Còn về kinh tế thì thậm chí ta sẽ gác lại một bên chuyện trong 15 năm qua người ta đã dạy nước Nga sống theo luật lệ thị trường, thế mà giờ đây phương Tây lại bực bội khi Nga tỏ ra là một học trò tốt. Cái chính là Nga thật sự đang giành quyền tham gia bình đẳng hơn vào tiến trình toàn cầu hoá và kinh tế thế giới mà thôi.
Tài nguyên năng lượng của Nga về mặt khách quan đúng là ưu thế cạnh tranh của Nga. Nhưng Nga không nói đơn thuần sẽ sử dụng ưu thế đó. Không, ngược lại Nga nói mình sẵn sàng hợp tác và đóng góp nguồn tài nguyên đó vào việc đảm bảo an ninh năng lượng, mà rộng hơn là an ninh kinh tế của toàn thế giới. Lẽ tự nhiên, Nga đồng thời cũng trù tính nhận được những khả năng tham gia và hợp tác trong các tiến trình kinh tế toàn cầu khác một cách bình đẳng và ngang bằng.
Nói cách khác, Nga không muốn trở thành kho chứa nhiên liệu cung cấp cho phương Tây, mà muốn đem nguồn tài nguyên đó và khả năng của mình tham gia vào việc lập ra các quy tắc bình đẳng hơn cho cuộc chơi trên thế giới, đảm bảo cho thế giới bền vững và phát triển.
Việc những sáng kiến ấy của Nga bị nghi ngờ cũng không thể thay đổi được thực tại. Nếu như phương Tây sợ mô hình hợp tác như vậy hay quay mặt làm ngơ thì chỉ làm tăng thêm xu thế hướng Đông trong các chính sách ưu tiên kinh tế của Nga mà thôi.
Tỉnh táo trong suy nghĩ và bền chặt trong ký ức
Để kết luận cần nói rằng việc hiểu đúng những quá trình đang diễn ra ở nước Nga phần nào cũng còn dựa vào thiện chí của phương Tây.
Dựa vào khả năng các chính khách và chính trị học phương Tây biết nhìn sự việc dưới một góc nhìn mới.
Việc đánh giá những tiến trình phát triển của nước Nga giúp nói rằng cốc nước đầy một nửa chứ không phải là vơi một nửa. Những ngờ vực sai lầm về quá trình phát triển, về những mục tiêu và lợi ích của nước Nga sẽ chỉ làm sánh tung nước trong cốc, chứ không làm đầy cốc được.
15 năm qua tại Nga đã diễn ra những biến đổi mang tính cách mạng, đã nảy sinh một thực tế hoàn toàn mới. Ngày nay giai đoạn cách mạng đã kết thúc, một nước Nga mới đang “trỗi dậy”. Con đường phát triển dân chủ của nước Nga là không thể nghi ngờ. Hình dung cho rằng việc “tăng cường thể chế nhà nước” tại Nga chứa đựng mối nguy hại là không có cơ sở. Khái niệm cho rằng ở Nga người ta chỉ chăm chăm tìm ra kẻ thù chứ không gì khác hơn – hoàn toàn không phù hợp với thực tế và chỉ gây cản trở cho bước tiến chung của chúng ta tới tương lai.
Bất kỳ người nào sáng suốt cũng không thể không thừa nhận rằng nước Nga là một cường quốc hàng đầu trong không gian Âu-á, có khả năng ảnh hưởng toàn cầu đáng kể đối với hệ thống thế giới, trước hết nhờ nhân tố hạt nhân và vị thế của Nga trên trường quốc tế. Tiềm lực của Nga cũng cho phép Nga trở thành một trong những cực của nền kinh tế thế giới.
Sự độc đáo về vị thế của Nga là ở chỗ Nga có nguồn tài nguyên khổng lồ, trong đó có năng lượng, đặc trưng chủ yếu của các nước nam bán cầu, kết hợp với tiềm lực về nhân văn, công nghiệp, quân sự chiến lược, và cơ bản là kinh nghiệm lịch sử và văn hoá vốn có của nền văn minh phương Tây. Nga khách quan trở thành cầu nối cho các nền văn minh khác nhau. Sự tham gia của Nga trong tiến trình chính trị thế giới có thể trở thành sự bảo đảm cho an ninh toàn cầu.
Dĩ nhiên trong quan hệ giữa Nga và phương Tây có nhiều điều cần phải thay đổi. Cần thực chất ra khỏi tàn dư của quá khứ, thoát khỏi khuôn mẫu thời “chiến tranh lạnh”, ngừng xem xét mối quan hệ chỉ thông qua lăng kính tiềm năng ngăn chặn hạt nhân của Nga và những nghi ngờ vô căn cứ. Điều này hoàn toàn không đúng. Cần thật sự mở mang kiến thức về nhau, mở rộng lĩnh vực hợp tác, tập trung vào lĩnh vực kinh tế và đối thoại giữa các định chế xã hội.
Kết luận chính rút ra ở đây, là Nga và phương Tây rất cần phát triển quan hệ của mình phức hợp hơn. Phức hợp theo nghĩa quan hệ ấy cần đa dạng và đầy đủ hơn. Cả Nga, cả phương Tây đều xứng đáng với mối quan hệ như vậy.