Ôi chao! Người quen cũ đấy ư! Thực tình, đa số dân chúng như mình, cả về công việc và đời sống, không quân tâm đến Anhxtanh. NHưng hậu quả khôn lường của trò hề Anhxtanh thì ngày nay, các nhà khoa học gia, chính trị gia đáng kính của chúng ta cứ diễn suốt. Chúng ta đang sống trong một thế giới có quá nhiều sai trái. Pravda.ru vừa đăng bài
“Physics, a culture of criminality” của Gary Novak. Xem ra nơi này có truyền thống. Ấy là hậu duệ Anhxtanh ngày nay đông nhung nhúc. Gian lận lừa đảo trong khoa học tràn lan khắp nơi, mọi học viện cho đến mọi ngõ ngách, còn nhiều hơn cả ở bến tàu bến xe.
Các nhà khoa học phương Tây chẳng mấy khi nói về lỗi lầm của mình. Trong vấn đề này, không hiểu làm sao họ khiếm tốn đến lạ thường!
Không một mảy may vật lý nào sinh ra, kể từ thời định luật Newton, mà không có những sai lầm thô thiển. Bạn nói đó là công việc Kỹ thuật. Kỹ thuật rất khác với khoa học. Các kỹ sư sử dụng kỹ thuật thử-và-sai để thử nghiệm các tác động một cách nông cạn. Sản phẩm khoa học dựa trên thực tế, nhưng trừu tượng. Bạn có thể nói thiên văn học và quang học là dễ dàng để kiểm chứng được. Dễ dàng có nghĩa là bằng chứng hời hợt không chứng minh vật lý là đúng đắn.
Có những hàm số đa biến, cũng có những
tập hợp đa mục đích. Thí dụ đám đông biểu tình ở quảng trường “Đầm lầy” được cho là “chống Putin”, nhưng không hẳn tất cả họ đều chống Putin. Kẻ đơn giản chỉ là bất mãn, kẻ là lợi dụng kiếm chác, kẻ khác mong đánh bóng tên tuổi, kẻ khác nữa chỉ muốn vui vẻ xem màn xiếc thú! Có cơ sở nào để có thể nói đó là 10 ngàn, 100 ngàn “chống Putin”? Phân bố Gauss với đồ thị hình chuông ngày nay được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực. Nhưng các số liệu thống kê thực không chắc tuân theo Gause và người ta vẫn hay viện đến Gauss mỗi khi bí bách.
Khoảng năm 1600, các nhà vật lý sử dụng con lắc để đo lực và chuyển động, bởi vì vận tốc có thể được xác định bởi chiều cao dao động. Họ nhận thấy rằng các con lắc va chạm vẫn bảo toàn tích số khối lượng vận tốc (mv) và tích số khối lượng vận tốc bình phương (mv2). Họ bỏ qua mv2 như một hiệu ứng toán học không liên quan và cho rằng con số mv được bảo toàn trong chuyển động. Xung quanh năm 1635, Rene Descartes công bố 1 bài báo nói rằng có một lượng cố định của chuyển động trong vũ trụ, bởi vì nó luôn luôn được bảo tồn. Bởi chuyển động, có nghĩa là mv. Năm 1686, Gottfried Leibniz công bố một bài báo nói rằng Descartes sai, không phải là mv được bảo tồn trong chuyển động mà là mv2.
Leibniz bắt đầu với một luận điệu vô căn cứ. Ông ta nói rằng nếu một vật 4 kg rơi 1 mét, sẽ tương tự như một vật thể 1 kg rơi bốn mét. Đại lượng 1/2mv2 là như nhau cho cả 2 vật, nhưng mv thì không. Để nói chính xác, ông ta phải nói là nếu một vật 4 kg rơi trong một giây, sẽ tương tự như vật 1 kg rơi trong 4 giây. Các vật thể này có cùng mv, nhưng 1/2mv2 không giống nhau.
Tuyên bố của Leibniz bị tranh cãi trong 200 năm, và sau đó James Joule cho là đã giải quyết các tranh cãi vào năm 1845 bằng cách khuấy nước trong một thùng gỗ để chứng tỏ lượng nhiệt tạo ra bởi lực và chuyển động. Joule đã không có khả năng dù là nhỏ nhất để thực hiện một đo lường như thế. Sự gia tăng nhiệt độ được cho là khoảng 0,5 độ C. Rằng lượng nhiệt sẽ biến mất trong khoảng 30 giây. Ông nói rằng đã làm giảm mất trọng lượng đi 16 lần, sẽ phải mất ít nhất một giờ. Ông không chỉ mắc 1 sai lầm vô tội, mà đã hoàn toàn gian lận. Ông tuyên bố đã loại bỏ tác động môi trường bằng cách giảm trọng lượng thêm thời gian. Làm như vậy sẽ không liên quan gì đến tác động môi trường, và nó sẽ làm xáo trộn đối tượng.
Các nhà vật lý đã cố gắng để thực hiện một đo lường như trên, và họ không thể thực hiện được bất cứ điều gì với các thử nghiệm thùng gỗ vì nhiều lý do. Lý do đầu tiên là giảm trọng lượng (bị văng nước), khuấy nước, sẽ ngày càng nhanh, làm mất khả năng xác định lực. Joule cho biết đã giải quyết vấn đề đó bằng cách sử dụng nhiều vật nổi hơn. Tuyên bố như vậy cho thấy ông ta hoàn toàn thiếu trung thực. Vật nổi không hề thích hợp.
Nhưng đoán xem, từ đâu mà Joule đã đưa ra con số 4,2 Nm tương đương mỗi calo, khác biệt con số hiện tại là 4,1868 Nm = 1 Cal, sai khác chỉ 3 phần ngàn. Vậy làm thế nào để có con số hiện tại, và nó không cho thấy Leibniz đã đúng? Cho đến ngày nay, người ta vẫn không biết con số 4,1868 Nm = 1 Cal được tính toán như thế nào. Không có phương pháp đo lường nào mà có thể hình dung, lại không có sai số vài phần trăm. Có lần thấy một tuyên bố trên internet nói rằng ngày nay các nhà vật lý sử dụng nén khí để thực hiện đo lường. Điều đó sẽ không làm được, vì khí nén tạo ra lực đàn hồi, có nghĩa là không sinh nhiệt.
Lý do dễ thấy nhất tại sao hầu hết các nhà vật lý không thực sự thực hiện đo lường như thế là toán học có thể chứng tỏ rằng Leibniz sai và Descartes đúng, có nghĩa là thực tế không có con số Joule cố định. Toán học đơn giản và không thể nghi ngờ, như thể hiện
trên trang web này.
Với định nghĩa chính xác động năng, không có con số Joule cố định. Mỗi lần nỗ lực để đo lường nó, sẽ được một con số khác nhau do điều kiện thay đổi. Vậy tại sao con số hiện tại hầu như giống Joule có năm 1845. Hoàn toàn gian lận là lý do duy nhất. Các con số đã bị giả tạo.
Ở khắp mọi nơi vật lý có thể được đánh giá, tìm thấy cùng một
chuẩn gian lận. Đầu thế kỷ XX, nhiều hằng số dẫn xuất từ hằng số nổi tiếng Plank. Một nhánh của hằng số Plank là hằng số Stefan-Boltzmann. Nó cho biết bao nhiêu bức xạ nhiệt tỏa ra từ một bề mặt ở nhiệt độ bất kỳ. Quan sát đơn giản chỉ ra rằng Stefan-Boltzmann xa rời thực tế ở hệ số 10 hay 20 ở nhiệt độ thường. Khi cá nhà khí hậu học áp dụng Stefan-Boltzmann vào "nguồn năng lượng" trái đất, cái mà họ nhận được là sự ngớ ngẩn do sai số (
Kiehl và Trenberth, 1997).
Lượng năng lượng từ mặt trời đến bề mặt trái đất được cho là 235 watt trung bình mỗi mét vuông. Stefan-Boltzmann cho biết một bề mặt ở 15 độ C (trung bình của trái đất) phải tỏa ra 390 W/m² (không xét đến sai sót do bức xạ). Hầu hết chúng bị hấp thụ bởi khí quyển và phần nhiều trong số chúng bị bức xạ trở lại. Sau khi làm điều này, các nhà khí hậu học chỉ có 24 W/m² dẫn truyền năng lượng từ bề mặt trái đất. Kết quả là 6% phải dẫn truyền hết như bức xạ bề mặt. Quạt mát sẽ không bao giờ phải dùng đến nếu chúng chỉ tăng 6% qua riêng bức xạ. Hơn nữa, nguồn năng lượng khác được tính bởi
NASA mà không sử dụng Stefan-Boltzmann cho ra 33% truyền dẫn như năng lượng bức xạ đi từ bề mặt trái đất. Nói cách khác, các nhà khí hậu bị buộc phải chấp nhận áp dụng Stefan-Boltzmann vào vấn đề này.
Một kết quả đáng tin cậy hơn xuất hiện khi giảm Stefan-Boltzmann đi theo hệ số 20. Khi đó, 20 W/m2 đi ra khỏi bề mặt trái đất thông qua bức xạ, trong khi 373 W/m²
qua truyền dẫn, đối lưu và bay hơi. Đó là bức xạ 5 %. Với bức xạ rất ít, hiệu ứng nhà kính là rất nhỏ.
Hằng số Stefan-Boltzmann có phải giảm theo hệ số 20 ở nhiệt độ bình thường không? Thực tế rõ ràng đầu tiên là không có hằng số như vậy. Chính xác hóa mỗi đặc điểm bức xạ cho thấy ảnh hưởng phức tạp đến kết quả. Đường cong Stefan-Boltzmann uốn khúc rõ rệt lũy thừa 4
với nhiệt độ. Nó gần như nằm ngang ở nhiệt độ bình thường, trong khi lẽ ra phải đi xuống đáng kể khi nhiệt độ thấp hơn.
Xem xét điều này: Nhiệt độ trung bình trái đất là 15 độ C, đó là trong một tầng hầm lạnh. Stefan-Boltzmann cho biết 390 W/m² thoát ra ở nhiệt độ đó. Đó là gần 4 bóng đèn 100 Watt thắp trên mỗi mét vuông các bức tường tối, của hầm lạnh. Điều đó không thể nào xảy ra. Đó là 40% của năng lượng lớn đổ vào mặt đường nhựa màu đen tại xích đạo vào buổi trưa.
Các nhà vật lý cho rằng có rất nhiều bức xạ thực sự phát ra bởi vật chất, nhưng chúng ta không hề nhận thấy nó, bởi vì số lượng tương tự đang được hấp thụ, khi tất cả là cân bằng. Giả định này là vô lý, bởi vì hấp thụ và phát xạ một lượng lớn năng lượng lại không thể nhận thấy được. Năng lượng hấp thụ phải được chuyển đổi thành nhiệt năng trước khi nó có thể được tái phát xạ. Nếu làn da hấp thụ và phát xạ 524 W/m² ở 37 độ C, nhiệt sẽ phá hủy các mô.
Vấn đề nóng lên toàn cầu chứng tỏ văn hóa gian lận mà các nhà vật lý sinh ra. Kể từ giữa thế kỷ XIX, chỉ một số nhỏ các nhà vật lý cho rằng sự nóng lên toàn cầu có thể bị gây ra bởi các khí nhà kính. Hầu hết các nhà khoa học không đồng tình, bởi cái gọi là khí nhà kính bão hòa tại một phần trăm nhỏ của các mức độ tập trung hiện tại trong không khí. Bão hòa có nghĩa là chúng đã hấp thụ tất cả các bức xạ có thể, vì vậy nhiều khí hơn không thể hấp thụ nhiều hơn. Ngoài ra, các đại dương hấp thụ CO2 rất mạnh, đến mức chúng định đoạt lượng khí này còn lại trong khí quyển.
Các đại dương có tính kiềm pH 8,1. Không ai có thể tìm thấy bất kỳ độ pH nào khác trong các đại dương xa các cửa sông, liên quan đến môi trường vi mô và nước thải. Có được điều này là do canxi cacbonat làm một bộ đệm mạnh cho độ pH 8,1. Ở độ kiềm này, nước hấp thụ mạnh khí thải CO2, như là một acid bị hấp thụ bởi dung dịch kiềm. Nhiệt độ cũng xác định nước giữ được lượng bao nhiều CO2. Kết quả là, CO2 đi vào và đi ra khỏi các đại dương khi nhiệt độ thay đổi.
Lý do tại sao nồng độ CO2 đang tăng lên một cách liên tục là bởi vì đại dương đang dần ấm lên và do đó hấp thụ các-bon-níc ít đi, như chúng vẫn luôn luôn như thế giữa các kỷ băng hà. Đại dương hấp thụ năng lượng mặt trời đến độ sâu 10 mét, gây ra nhiệt tích lũy. Ngoài ra, dòng địa nhiệt đi vào các đại dương và cũng tích lũy một cách đáng kể qua thời gian. Chỉ có kỷ băng hà mới làm cho các đại dương lạnh đi. Kỷ băng hà xảy ra với chu kỳ mỗi 100 ngàn năm, và một chu kỳ tiếp theo sẽ xảy ra trong vòng
2-4 thế kỷ nữa.
Mặc dù có những luận định này, James Hansen và đồng sự công bố một báo cáo năm 1988 tuyên khí thải CO2 do con người gây ra sự nóng lên toàn cầu. Ông ta sử dụng một yếu tố vớ vẩn
để xác định nhiệt lượng. Nguồn gốc của yếu tố vớ vẩn này không thể xác định được, nhưng nó là không là cái gì cả, ngoài một đường cong mở rộng sự thay đổi giả định của quá khứ trong tương lai. Các yếu tố vớ vẩn này bây giờ được gọi là nhạy cảm. Nó có nghĩa là 100 phần triệu gia tăng CO2 trong khí quyển được cho là sẽ làm nhiệt độ tăng 0,6 độ C. Tất cả các nhà khí hậu học chạy theo sự nhạy cảm giả định này, và họ chỉ tranh luận về hiệu ứng phát sinh thứ cấp, chủ yếu là vì thế trái đất nóng lên, băng ở các cực tan chảy, làm nước biển dâng hàng mét, gây ngập lụt các đồng bằng châu Thổ như Bắc Bộ, Sông Cửu Long. Những dự báo không giải thích được về sự lạnh đi trong vòng 5 năm qua, làm cho họ nói về việc giảm độ nhạy cảm giả định vào lúc này. Có nghĩa là yếu tố vớ vẩn Hansen cần phải được thay đổi.
Có vở hài kịch “Ngày tận thế” đang được phô diễn ngày nay. Dĩ nhiên, sẽ chẳng còn ai thấy vẫn đề
Biến đổi môi trường dưới bàn tay con người nữa, chặt phá rừng, xây thủy điện vô tội vạ, qui hoạch kém, tâm lý ăn xổi, vì lợi ích trước mắt khai thác cạn kiệt tài nguyên, bỏ qua bền vững lâu dài… Bây giờ người ta có lý do “xác đáng” để đổ tội cho Thượng đế tự nhiên hay chung chung như tội lỗi của con cháu Người.
Đó không phải là những gì khoa học coi là đúng đắn. Mục đích của khoa học là loại bỏ sai lạc và hư hỏng thông qua các phép đo xác minh. Có các phương pháp để làm điều đó, và các phương pháp làm hư hỏng các quá trình. Người ta thấy hầu như không có qui trình xác minh sự nóng lên toàn cầu một cách "khoa học", chỉ có các giả định chồng lên các giả định.
Tương đối không có mục đích nào khác ngoài phá vỡ lẽ phải, vì thế những kẻ bất tài kém năng lực tràn lan khắp nơi. Chúng bắt đầu với hai vật chuyển động đối với nhau, vì vậy vận tốc có thể bị làm rắm rối với chuyển động tương đối. Có cái gì phải làm với E = mc2 ở đây? Hoàn toàn và tuyệt đối chẳng có gì. Anhxtanh cùng lúc với việc định nghĩa động năng, trong đó nói rằng KE = 1/2mv2. Khi phương trình đó có thể chứng minh bằng toán học là sai lầm, nó có nghĩa là Einstein song hành với phương trình nhầm lẫn. Khoa học mà song hành với lỗi lầm này là cái gì?
Lý do tại sao người ta cho rằng không có gì có thể di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng là do vận tốc nằm trong
căn bậc hai sqrt(1-v2/c2), và không có căn bậc hai của một con số âm. Một học sinh toán lớp 8 có thể xoay sở với một lược đồ như vậy.
Không-thời gian được cho là thay thế hấp dẫn bởi hình ảnh cơn lốc với một khối lượng ở trung tâm. Khoa học? Điều đó được giải thích như một đồ thị với không gian và thời gian trên các trục khác nhau. Một đồ thị và hình ảnh thay thế hấp dẫn. Nhưng Anhxtanh được cho là đã được chứng minh chính xác hàng ngày, bởi ông ta đoán rằng ánh sáng sẽ uốn cong xung quanh các vật thể lớn. Không-thời gian được cho là uốn cong ánh sáng, trong hấp dẫn thì không. Ánh sáng uốn cong khi đi qua các vật chất có mật độ thay đổi - được gọi là quang học.
Khi các nhà vật lý xác định tuổi của vũ trụ, họ sử dụng thời gian cần thiết để ánh sáng có thể đến trái đất từ các thiên thể xa xôi nhất và cho biết vũ trụ 13,5 tỷ năm tuổi. Nhưng họ cũng nói vũ trụ bắt đầu từ một điểm nhỏ và nở rộng ra bên ngoài, được gọi là Big Bang. Liệu họ có phải họ quên lượng thời gian cần thiết để vật chất phân tán ra ngoài? Ngay cả với tốc độ ánh sáng, độ tuổi của vũ trụ sẽ phải gấp đôi. Vì vậy, sau khi phớt lờ câu hỏi này trong nhiều thập kỷ, họ quyết định rằng vấn đề vật chất đã ở vị trí hiện tại của mình mà không cần di chuyển, bởi vì vũ trụ giãn nở. Cái gì đã sai khi Chúa làm việc đó? Quá nhiều phép thuật? Điều đó giống như trò đùa, nhưng đó là văn hóa gian lận.
Cơ học lượng tử là một lỗ đen khổng lồ trong vật lý. Tất cả các nhà vật lý đều có thể cho chúng ta biết về nó là họ không thể xác định thống kê vị trí của điện tử ở đâu. Nếu có điều gì đó thực sự đối với chủ đề này, mà họ có thể nói về nó. Thì họ nói rằng bức xạ tồn tại như cả sóng và hạt. Lý do giả định bức xạ giống như hạt là nó truyền năng lượng cho các điện tử quỹ đạo có bước nhảy lớn. Bức xạ phải có tần số thích hợp. Giả định là có một lượng năng lượng khác nhau ở mỗi tần số, mà hạt năng lượng dường như cần có.
Đó không phải là tình cờ. Hạt có chiều dài, chiều rộng và chiều cao, và có hay không năng lượng. Lý do tại sao tần số có phải đúng là vì sóng phải va chạm điện tử ở một phía của quỹ đạo của riêng nó. Nếu bị va chạm cả hai phía, ảnh hưởng bị trung hòa. Khi tần số đúng, electron có thể bị va chạm nhiều lần, cho đến khi nó đạt được đủ năng lượng để chuyển đến quỹ đạo cao hơn. Với va chạm lặp đi lặp lại, sóng không cần phải có cùng năng lượng như điện tử cần. Bạn có thể nghĩ rằng các nhà vật lý đã bỏ qua nhiều điều, nhưng họ không thể, trừ khi muốn.
Với cái gọi là nhiên liệu hóa thạch, nhiệt độ và áp suất được cho là làm tăng năng lượng hóa học của vật liệu sinh học để tạo ra hydrocarbon. Không có cách nào để tăng năng lượng hóa học ngoài bức xạ. Có nghĩa là nhiên liệu hóa thạch không có nguồn gốc sinh học. Các nhà vật lý không biết rằng nhiệt độ và áp suất không thể chuyển thành năng lượng hóa học? Năng lượng hóa học nằm trong chuyển động của các electron quay xung quanh hạt nhân. Không gì có thể thực hiện đối với phản ứng hạt nhân mà làm tăng chuyển động của điện tử quay xung quanh chúng.
Với ATP, các nhà sinh học tuyên bố động lượng quay protein
truyền năng lượng cho ADP. Động năng quay của protein không thể chuyển thành năng lượng hóa học. Một trong những nghịch lý là ở chỗ năng lượng trao đổi chất được thực hiện như electron năng lượng cao, qua ba cytochrome thành năng lượng ba phân tử ATP. Không có cơ chế để chuyển năng lượng từ các điện tử năng lượng cao với các protein quay. Năng lượng từ lâu đã được biết đến là chuyển qua cytochrome. Số các sai lầm ngớ ngẩn không xảy ra một cách tình cờ, nó là sản phẩm của một nền văn hóa của tội phạm trong vật lý.