Năm 1904, Hasenohrl đăng bài viết về mối liên hệ khối lượng-năng lượng. Ông nghiên cứu hệ thống bao gồm vật rỗng chứa đầy “nhiệt” bức xạ và xác định tác động của bức xạ này. Các tính toán dẫn đến kết luận "cần phải thêm vào khối lượng cơ học hệ thống của chúng tôi một khối lượng rõ ràng Mu= (8/3)E/c2" trong đó E là năng lượng bức xạ. Sau đó trong bài báo công bố ngày 14 tháng 3, ông đính chính lại kết quả: Mu= (4/3)E/c2.
Hasenohrl chỉ ra rằng nếu nội năng của một hệ thống bao gồm bức xạ, thì nhìn chung, khối lượng quán tính của hệ thống lên quan đến năng lượng . Điều này phù hợp với tính toán của ông.
Trên cùng tạp chí Anhxtanh đăng 2 bài viết cùng về E = mc2. Bài báo đầu, Anhxtanh trình bày về ví dụ cách tiếp cận 2 người quan sát và rằng theo thuyết tương đối hẹp khối lượng giảm một lượng E/c2 trong đó năng lượng bức xạ là E. Ông ta cố gắng phổ biến thuyết của mình, viết theo cùng 1 cách như Hasenohrl đã viết và những người khác trước đó đã đề cập. Lúc đó ý tưởng năng lượng-khối lượng đã rõ và tính toán của Hasenohrl là từ thực nghiệm. Hóa ra, Anhxtanh dù đã viết mM = E/c2 và đề cập đến năng lượng bức xạ vật thể, đến hệ qui chiếu, nhưng lại không thể chỉ ra chỗ sai của Hasenohrl Mu= (4/3)E/c2;
Để thuyết phục cộng đồng khoa học về tác quyền E=mc2, Anhxtanh phải trình bày từ đâu dẫn đến công thức đó, hay nói cách khác là chứng minh “công thức của mình”. Không thể lấy kết quả cơ học cổ điển, lảng tránh thuyết tương đối ether của Lorentz, quí ông Einstein luýnh quýnh đập đầu vào tường. Ngài dẫn ví dụ 2 người quan sát, 1 đứng yên cùng vật thể bức xạ và 1 di chuyển với vận tốc tương đối v. Người di chuyển thấy có năng lượng bức xạ L từ vật thể và động năng theo 2 người quan sát khác nhau 1 lượng (A):
K0 − K1 = L(1/(1 − v2/c2)1/2 − 1);
Quí ông Anhxtanh làm phép xấp xỉ rất tài, có kết quả:
K0 − K1 = (1/2)Lv2 /c2;
Đây là phần bài viết trên tạp chí Annalen Der Physik năm 1905. Fan Anhxtanh khi bí thì sủa lên rằng, Anhxtanh là mới vì viết về “năng lượng”! Chúng tưởng năm 1905, đã có “phương trình Anhxtanh” tường minh E = mc2:
Đến đây là hết, không có bất cứ giải thích nào thêm! Ngoài tuyên bố là: “Nếu 1 vật thể giải phóng hết năng lượng L ở dạng bức xạ, khối lượng của nó giảm một lượng L/c2.” Với thâm ý cho rằng động năng vế trái là 1/2mv2; thì mM = L/c2;
L(1/(1 − v2/c2)1/2 − 1); => (1/2)Lv2 /c2
99% fan Anhxtanh vẫn hô vang Đức Ngài vĩ đại vạn tuế! vạn vạn tuế!!! Vậy mà chưa bao giờ thấy bài báo của Ngài năm 1905. Bạn có thể tự thay 1, 2 số liệu , thí dụ v = 0,5c hay v = 0,7c gì đó vào biểu thức xấp xỉ bên trên để thấy được sự vĩ đại của Ngài. Nhưng bạn sẽ không biết làm thế nào để có số hạng xấp xỉ như thế. Đó là bí mật của Ngài. Cả thế giới quì mọp thán phục vái lạy Ngài. Cái con bà cố đẻ ra cụ của kị nhà Zu-đa!
Đấy là 1 phỏng đoán chứ không phải chứng minh. Vấn đề là ở chỗ, “trình bày khoa học” này chả có căn cứ vật lý cũng chả có logic toán học (dĩ nhiên ngoài động năng vế trái), lẫn lộn quan sát cố định và quan sát di chuyển, thậm chí không thèm tính đếm đến tương quan thay đổi tương đối tính của chính mình. Và như vậy, phương trình Anhxtanh chẳng thực sự nói bất cứ điều gì cụ thể về thay đổi năng lượng quan sát thấy từ một hệ qui chiếu và cũng không liên quan gì đến qui chiếu. Thực sự, đó là bóp méo thuyết tương đối hẹp để có được kết quả na ná E = mc2 đã biết.
Bài báo thứ 2 thậm chí còn choáng váng hơn. Ngài thay thế tốc độ quan sát v thành tổng năng lượng vật thể. Bao gồm năng lượng bức xạ L, khối lượng và động lượng. Vô phương! bằng cách nhào trộn “năng lượng quan sát thấy” trước và sau bức xạ Ngài được F0 là chênh lệch năng lượng của 2 người quan sát trước bức xạ, tương ứng F1 là sau bức xạ, nhưng K0, K1 bên trên, giờ K0 là động năng từ chỉ một quan sát viên di chuyển trước phát xạ và K1 là của cùng người ấy sau phát xạ. Ngài viết công thức như sau, tổng chênh lệch năng lượng (B): F0 - F1 = (L / ((m - m1) c2 ))(K0 - K1); Trong đó m là khối lượng cho người quan sát đứng yên trước khi bức xạ và m1 là khối lượng cho người quan sát đứng yên sau khi bức xạ phát ra năng lượng L. Cho là điều này có được từ phương trình (A ) bên trên, bằng một số cách xấp xỉ.
Như vậy, từ phân tích đơn vị, tất cả những gì có thể nói về sử dụng lập luận thuyết tương đối hẹp là ở L/(mM c2) = D, một hằng không đổi, ràng như vậy. Cũng rõ ràng là F0 = K0 + C và F1 = K1 + C, với một số C tùy ý. Và tiếp theo F0 - F1 = K0 - K1; Bây giờ, chả cần phép xấp xỉ vĩ đại nữa, và với thâm ý D = 1; hay buộc L/(mM c2) = 1; đó là kết quả dễ thấy của L = mM c2.
Thật vậy, tuyên bố rất rõ ràng lại chẳng rõ ràng tý nào. Điều này thấy trong các biểu thức F0 và F1; F0 = H0 − E0, và F1 = H1 − E1. Nhưng điều đó có nghĩa là H0 = E0 + K0 + C và H1 = E1 + K1 + C; với H là tổng năng lượng.
Vâng, fan Anhxtanh quí mến, cái gì sai với điều này? Các quan sát H0, K0, H1 và K1 là từ người quan sát di chuyển, E0 và E1 tổng năng lượng từ người quan sát đứng yên trước và sau phát xạ L. Nhưng chúng cần được kể lể theo tương đối tính mà đừng có thêm hằng số C.
Anhxtanh vĩ đại lại đập đầu vào tường 1 lần nữa.
Bạn có biết là từ hệ thức chuyển đổi khối lượng Lorentz, nhân cả 2 vế với C2 thành:
mc2 = m0 c2/(1 − v2 /c2)1/2;
Từ đây, khai triển vế phải thành chuỗi: mc2 = m0c2 + (1/2)m0 v2 + (3/8)m0v4 /c2 + …
Chuỗi này có số hạng đầu m0c2 là năng lượng nghỉ, số hạng thứ 2 (1/2)m0 v2 là động năng cổ điển và từ số hạng thứ 2 trở đi là động năng. Vậy thì tự nhiên E = mc2, E0 = m0c2, vấn đề còn lại chỉ là hiểu m, m0 là gì.
Bạn đã thấy đồn đại Anhxtanh dốt toán là có thật hay chưa? Ông ta cố gắng thể hiện tương đối hẹp mới tinh, lảng tránh Lorentz, không công nhận m = m0/(1 − v2 /c2)1/2 để học thuyết mình có không-thời gian khác kiểu; Nên xấp xỉ giả dối cho có vẻ ná ná kết quả đã biết. Khi không xong thì đẻ ra một đống H, E, K, F, C loằng ngoằng rối rắm phức tạp. Thằng bác học tâm thần! Thiên tài vĩ đại nhất thế kỷ XX của các bạn đấy.
Nguồn: lục lại “báo cáo khoa học” cũ!